<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653</id><updated>2011-12-28T20:18:45.705-08:00</updated><title type='text'>Các bài viết về tôn giáo</title><subtitle type='html'></subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><link rel='next' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default?start-index=101&amp;max-results=100'/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>181</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-2690295405211294851</id><published>2009-09-04T21:43:00.000-07:00</published><updated>2009-09-04T21:49:39.189-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;ĐỨC THANH BẦN&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;HAI QUAN NIỆM KHÁC BIỆT&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;M&lt;/b&gt;ột tu sĩ thánh thiện kia kể chuyện về cha mình như sau: &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;C&lt;/b&gt;ha tôi dạy dỗ con cái trong vòng kỷ luật chặt chẽ và chính cha tôi cũng là một người sống rất khắc khổ. Bởi đó, người không khi nào đi xem hát, mà chỉ giải trí bằng việc cầu nguyện, đọc Thánh Kinh, đọc sách báo đạo đức, bằng việc tham gia những công tác tông đồ trong giáo xứ, bằng việc đi thăm và ủy lạo các gia đình. Người khinh thường mọi sự xa xỉ, người mang những đôi giầy cho đến khi cũ mèm không dùng được nữa. Các anh em tôi đều mua xe gắn máy khi loại xe này trở thành thông dụng, còn cha tôi chỉ đi xe buýt đến sở làm. Người làm việc cho một công ty hỏa xa cách nhà 3 cây số. Lòng ham mê tài lợi là một điều hoàn toàn xa lạ đối với tính tình của người. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;C&lt;/b&gt;ó lần nọ, sau khi đã góp công thành lập nhà ngân hàng hỏa xa thành phố, cha tôi từ chối không nhận số tiền thưởng đặc biệt dành cho mình. Người nói rằng đó là bổn phận của người và người chỉ làm trong những khi nhàn rỗi mà thôi. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;S&lt;/b&gt;au khi về hưu được vài năm, một chuyên viên kế toán mới đến xem xét sổ sách của công ty. Ông ta vô cùng ngạc nhiên khi nhận thấy rằng cha tôi không hề đòi hỏi phần chia lời của mình. Người chuyên viên tuyên bố: «&lt;i&gt;Ông ấy đã làm công việc của ba người! Công ty còn thiếu ông ta một số lời chưa trả là 12. 500. 000đ!&lt;/i&gt;»&lt;i&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/i&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;C&lt;/b&gt;ác viên chức hỏa xa bèn gửi cho cha tôi một ngân phiếu trả đủ số tiền trên. Cha tôi không nghĩ gì về vấn đề ấy, thậm chí cũng quên cả việc nhắc nhở gia đình về số tiền đó. Về sau, em trai tôi nhận thấy có một số tiền lớn gửi vào trương mục ngân hàng của cha tôi, mới hỏi người về vấn đề ấy. Cha tôi nói: «&lt;i&gt;Cần gì phải bận tâm hay hãnh diện vì một lợi lộc vật chất. Người sống theo Tin Mừng không quá lưu tâm về tiền bạc vật chất, không ham thích lợi lộc cũng như không quá lo lắng buồn phiền khi bị mất mát thua lỗ, vì biết rằng không gì xảy ra ngoài Thánh Ý Thiên Chúa, và thấy rằng mình bước vào đời không có một xu, và từ giã của đời cũng không đem đi được một xu!&lt;/i&gt;»&lt;i&gt;. &lt;/i&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;C&lt;/b&gt;âu chuyện trên đối với não trạng của người thời nay thật là xa lạ, khó hiểu và khó tin. Ngày nay, người trần đa số coi sự giầu sang, sự thành công về mặt vật chất là một thành công quan trọng trong cuộc đời, là một yếu tố không có không được của hạnh phúc. Ai cũng lo sao cho mình được giàu có để nở mày nở mặt với đời, làm như giá trị con người là ở số tiền họ có, ở của cải họ sắm được. Và ai cũng coi sự nghèo nàn, thiếu thốn là một điều xấu, một tai họa cần phải diệt trừ khỏi nhân loại không khác gì bệnh dịch. Ở nước ta hiện nay có chương trình «&lt;i&gt;xóa đói giảm nghèo&lt;/i&gt;», điều đó nói lên rằng nghèo đói là một bất hạnh cần phải khai trừ khỏi xã hội. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;Đ&lt;/b&gt;ang khi mọi người ai cũng cho rằng «&lt;i&gt;phúc cho những ai giầu có, no đủ&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;và ai cũng tìm cách tránh nghèo tránh đói như tránh một cái gì đáng sợ nhất, coi nghèo là «&lt;i&gt;mối tội thứ tám&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;&lt;i&gt;-&lt;/i&gt;vì «&lt;i&gt;bần cùng sinh đạo tặc&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;-thì Đức Kitô lại tuyên bố những câu thật là ngược đời, nghe rất chói tai: &lt;i&gt;Phúc cho những ai nghèo khổ… phúc cho những ai đói khát….&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (Lc 6, 20-21&lt;/i&gt;), «&lt;i&gt;Khốn cho các ngươi là những kẻ giầu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi. Khốn cho các ngươi là những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (Lc 6, 24-25&lt;/i&gt;). Thật là nói ngược! Đang khi người trần ai cũng tìm cách làm cho mình giầu có, sung túc, thì những tu sĩ lại tuyên khấn sống «&lt;i&gt;Đức Thanh Bần&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;hay «&lt;i&gt;Đức Khó Nghèo&lt;/i&gt;»&lt;i&gt;. &lt;/i&gt;Có phải Đức Kitô và các tu sĩ -những người theo Ngài -là những người bất bình thường, suy nghĩ lệch lạc không? Có phải Ngài và các tu sĩ của Ngài ca tụng và cổ võ sự đói nghèo, thiếu thốn, giữa lòng một thế giới đang cố gắng «&lt;i&gt;xóa đói giảm nghèo&lt;/i&gt;»&lt;i&gt;?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/i&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;NGHÈO CŨNG GIỐNG NHƯ TAI NẠN,&lt;br /&gt;TỰ BẢN CHẤT LÀ ĐIỀU KHÔNG HAY, NHƯNG… &lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;C&lt;/b&gt;ho dù là Đức Kitô hay các tu sĩ, chắc chắn ai cũng phải công nhận rằng: Con người có nhu cầu vật chất và tinh thần. &lt;i&gt;Cả hai &lt;/i&gt;nhu cầu đó đều &lt;i&gt;cần được thỏa mãn&lt;/i&gt;, nếu có nhu cầu nào không được thỏa mãn, con người không thể tồn tại và phát triển quân bình, và cũng không thể hạnh phúc. Nghèo, là tình trạng nhu cầu vật chất không được thỏa mãn đầy đủ, khiến con người lâm vào tình trạng khó khăn, đau khổ. Do đó, nghèo là một điều không hay, điều dữ, gây khó chịu (cũng tương tự như đau khổ và tai nạn). &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;N&lt;/b&gt;hưng chúng ta cần phân biệt giữa «&lt;i&gt;điều dữ&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;và&lt;i&gt; &lt;/i&gt;«&lt;i&gt;điều xấu&lt;/i&gt;»&lt;i&gt;, &lt;/i&gt;«&lt;i&gt;điều lành&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;và&lt;i&gt; &lt;/i&gt;«&lt;i&gt;điều tốt&lt;/i&gt;»: Nhiều người &lt;i&gt;tốt&lt;/i&gt; mà cứ gặp điều &lt;i&gt;dữ&lt;/i&gt;, điều chẳng may, trái lại nhiều người &lt;i&gt;xấu&lt;/i&gt; lại cứ gặp toàn điều &lt;i&gt;lành&lt;/i&gt;, điều may mắn. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;Đ&lt;/b&gt;iều xấu, ác, điều tội lỗi (có nghĩa luân lý) thì phải tránh, không nên làm: «&lt;i&gt;làm thiện tránh ác&lt;/i&gt;»&lt;i&gt;, &lt;/i&gt;nhưng nó lại thường có sức hấp dẫn và cám dỗ người ta làm, vì nó thường đi đôi với lợi lộc, vui thú mà ai cũng ham thích. Ăn trộm ăn cắp là điều ác, nhưng lại giúp người ta có tiền nhanh chóng là điều có lợi. Còn điều tốt, điều thiện (theo nghĩa luân lý) thì nên làm, nhưng lại &lt;i&gt;đòi hỏi người ta phải hy sinh, nghĩa là phải chấp nhận một số những điều dữ, không may&lt;/i&gt;, vì thế, rất nhiều người không thích làm hay không dám làm. Thương người là điều tốt thì phải chấp nhận hy sinh cho người, nghĩa là phải mất mát, thiệt thòi, đôi khi bị liên lụy, đau khổ, là điều dữ, bất lợi. Vì thế, thánh Phaolô nói: «&lt;i&gt;Điều thiện tôi muốn thì tôi lại không làm, còn điều ác tôi không muốn thì tôi lại cứ làm&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (Rm 7, 19&lt;/i&gt;). &lt;i&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/i&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;N&lt;/b&gt;hư vậy, điều dữ, điều không may, bất lợi (không theo nghĩa luân lý) như nghèo nàn, mất mát, tai nạn, bệnh tật, bị nghi oan… thì đạo đức hay luân lý chỉ đòi buộc mình không được gây ra cho người khác, chứ không đòi buộc phải tránh cho mình, mặc dù tính tự nhiên ai cũng sợ và muốn tránh. Trong rất nhiều trường hợp, sự thiện hay lương tâm đòi buộc người ta phải chấp nhận một số những điều dữ, không may và bất lợi này. Chẳng hạn, muốn cứu một người bị cướp dọc đường, thì phải chấp nhận mất thì giờ, có khi phải tốn tiền, đó là chưa nói đến trường hợp những kẻ bất lương giả bị cướp để những người có lòng từ tâm mắc bẫy. Người ta vẫn nói: «&lt;i&gt;Cứu người, hại mình&lt;/i&gt;», để nói lên rằng: Trong nhiều trường hợp, làm điều tốt thì phải chấp nhận mình có thể bị thiệt hại. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;C&lt;/b&gt;òn điều tốt, lành, may mắn (không có nghĩa luân lý) thì ai cũng ham thích, ai cũng muốn xảy đến cho mình, nhưng nhiều khi điều thiện hay lương tâm buộc ta phải từ chối những điều hấp dẫn đó. Chẳng hạn khi phải từ chối nhận sự đền ơn của một người quá nghèo, hay khi phải từ chối của hối lộ… Nhiều vị thánh từ chối những lợi lộc rất lớn lao, đồng thời chấp nhận những bất lợi, thậm chí cả cái chết, chấp nhận bị hành hạ đau đớn, để trung thành với Thiên Chúa, với bạn bè hay người thân mình, hay để khỏi phạm một tội ác nào đó. Như vậy, thường có sự &lt;i&gt;bắt chéo nhau&lt;/i&gt; giữa bốn điều nói trên: &lt;i&gt;điều tốt&lt;/i&gt; lại hay đòi hỏi phải chấp nhận &lt;i&gt;điều dữ&lt;/i&gt;, không may; còn &lt;i&gt;điều xấu&lt;/i&gt; lại có sức quyến rũ vì những &lt;i&gt;điều lành&lt;/i&gt;, những may mắn, lợi lộc, vui thú nó đem lại. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;K&lt;/b&gt;hi phân biệt rõ ràng bốn phạm trù trên (&lt;i&gt;tốt, xấu, lành, dữ&lt;/i&gt;), ta sẽ hiểu ngay tại sao cái nghèo là một tai họa, là một điều dữ, mà lại được Đức Kitô khuyến khích ta chấp nhận, còn cái giàu là một điều lành, lại bị Ngài không ưa, kết án, và đồng thời đòi hỏi những người theo Ngài phải từ bỏ. Chấp nhận cái nghèo, hay chấp nhận một tai họa để người khác hạnh phúc hay đỡ khổ là một hành vi cao thượng. Còn tìm sự giàu có, hay dành sự sung sướng cho mình mà để kẻ khác phải nghèo phải khổ là một hành vi kém cao thượng. Khi ta tự nguyện chấp nhận đời sống nghèo khó như Đức Kitô đòi hỏi, để tập trung năng lực vào con đường hoàn thiện, để chia sẻ với người nghèo khổ bất hạnh, thì đó là ta sống Đức Thanh Bần.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;div style="text-align: left; color: rgb(0, 0, 153);"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;b&gt;SỐNG ĐỨC THANH BẦN &lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: left; color: rgb(0, 0, 153);"&gt; &lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;b&gt;ĐỂ GÓP PHẦN XÂY DỰNG CÔNG BẰNG XÃ HỘI&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;Đ&lt;/b&gt;ức Kitô muốn ta sống nghèo, hay ta tự nguyện sống nghèo để làm gì? Nếu không vì một lý do cao thượng nào đó, thì tự nguyện như thế quả là dại dột. Lý do cao thượng đó là gì? &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;C&lt;/b&gt;hấp nhận sống nghèo khó, trước hết, là để chia sẻ và cảm thông nỗi bất hạnh của đa số nhân loại, làm giảm bớt sự chênh lệch trong xã hội. Ta biết, số của cải và sự trù phú trên thế giới thì có hạn, nếu được chia đồng đều thì ai cũng được dư dật no đủ. Nhưng nếu có người được nhiều hơn mức độ trung bình, thì tất nhiên số người còn lại phải được ít hơn mức độ trung bình đó. Càng có nhiều người được ưu đãi càng nhiều, thì số phận của những người còn lại càng trở nên thê thảm. Do đó, xét về mặt luân lý xã hội, ta không nên mong cho mình giầu có vượt mức đủ dùng của mình đang khi xã hội còn quá nhiều người nghèo khổ. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;L&lt;/b&gt;ấy một bài toán nhỏ cho dễ hiểu: Một nhà nọ có 10 người, nên người mẹ đã mua 50 mét vải để mỗi người có 5 mét, đủ may hai bộ quần áo cần thiết để mặc trong một vài tháng. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; -Nếu có hai người đòi lấy gấp đôi số vải của mình (tức hết 20 mét, còn lại 30 mét) thì 8 người còn lại mỗi người chỉ được 30m:8=3,75 mét, làm sao đủ mặc? &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; -Nếu có tới ba người muốn lấy gấp đôi phần của mình (tức hết 30m, còn lại 20 mét), ắt 7 người còn lại mỗi người chỉ được 20m:7=2,85 mét, thì còn tệ hơn nữa! &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; -Nếu chỉ có một người chiếm hết 8/10 số vải (tức 40 mét, còn lại 10 mét), thì 9 người người kia chỉ còn được mỗi người hơn một mét, làm sao may đủ một cái áo? Đó chính là hình ảnh một thực tế bất công của thế giới ngày nay! &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;N&lt;/b&gt;hững khi có nạn đầu cơ tích trữ hàng hóa, ta thấy khi một mặt hàng bị tập trung vào tay một số người, thì lập tức mặt hàng đó trên thị trường trở nên khan hiếm, khiến dân chúng có nhiều người cần mà không mua được. Vì thế, phát sinh sự phân phối bất hợp lý mặt hàng đó, gây xáo trộn kinh tế thị trường. Nếu không có sự đầu cơ tích trữ, thì không ai bị thiếu cả. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;H&lt;/b&gt;iện nay những con số thống kê cho ta thấy, 8/10 của cải trên thế giới đang nằm trong tay 1/10 nhân loại, còn 2/10 của cải kia cũng được chia một cách không đồng đều cho 9/10 nhân loại. Do đó, trên thế giới hiện nay, sự chênh lệch giữa người giầu và người nghèo, giữa nước giầu với nước nghèo hết sức lớn. Có những người hết sức giầu có, sống xa hoa phung phí cả đời mà vẫn không hết tiền, và cũng có những người hết sức nghèo khổ, không sao thỏa mãn được cả những nhu cầu cơ bản nhất của sự sống, lo chạy gạo từng bữa mà không đủ. Mà của cải thì Thiên Chúa ban chung cho cả thế giới, và ban một cách dư dật để mọi người dùng, đâu ban riêng cho ai. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;D&lt;/b&gt;o đó, nếu người giầu không biết chia sẻ của cải cho người nghèo, thì rõ ràng một cách nào đó là họ đã duy trì sự bất công trong nhân loại. &lt;i&gt;Để cho mình quá giầu có giữa những người nghèo khổ, mộtcách nào đó, là phạm một điều bất công&lt;/i&gt;, vì bình thường nếu không nhờ sự bất công -có thể bất hợp pháp mà cũng có thể hợp pháp, có thể bất hợp lý mà cũng có thể hợp lý -thì làm sao người ta có thể hơn nhau quá nhiều như thế? Sự bất công đó &lt;i&gt;có thể từ thời cha ông hay tổ tiên để lại&lt;/i&gt;, mà cũng có thể do cơ cấu xã hội chưa hoàn chỉnh tạo ra. Chẳng hạn bọn thực dân đã tới chiếm đất một cách bất công ở các nước thuộc địa, rồi để lại cho con cháu họ. Hàng con cháu đó được giàu có không phải vì họ làm gì bất công, mà vì sự bất công của cha ông họ. Hay &lt;i&gt;do cơ cấu xã hội không hợp lý&lt;/i&gt; khiến có những người kiếm tiền quá dễ dàng và có những người kiếm tiền quá khó khăn…. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;Đ&lt;/b&gt;&lt;i&gt;ể tái tạo lại phần nào sự công bằng đã bị mất, Đức Kitô kêu gọi mọi người yêu thương nhau, chia sẻ cho nhau&lt;/i&gt;. Những người nào muốn theo Ngài, muốn làm đồ đệ Ngài, muốn theo con đường của Ngài, thì lời đầu tiên mà Ngài đề nghị là: «&lt;i&gt;Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi &lt;/i&gt;&lt;b&gt;bán tài sản&lt;/b&gt;&lt;i&gt; của anh và đem &lt;/i&gt;&lt;b&gt;cho người nghèo&lt;/b&gt;&lt;i&gt;, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (Mt 19, 21&lt;/i&gt;). &lt;i&gt;Bán tài sản&lt;/i&gt; là chấp nhận sống nghèo, và mục đích trực tiếp của việc sống nghèo là &lt;i&gt;để chia sẻ&lt;/i&gt;: chia sẻ của cải cho người nghèo mà cũng là chia sẻ thân phận hẩm hiu của họ. Đó là một hành vi yêu thương, một hành vi làm hoàn thiện người thực hiện nó. &lt;i&gt;Mục đích của việc tự nguyện sống nghèo hay của Đức Thanh Bần là &lt;/i&gt;&lt;b&gt;thực hiện Đức Ái&lt;/b&gt;&lt;i&gt;. &lt;/i&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;C&lt;/b&gt;ộng đồng Kitô hữu đầu tiên đã sống đúng lời kêu gọi của Ngài: «&lt;i&gt;Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có làm của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung… Trong cộng đoàn, không ai phải thiếu thốn, vì tất cả những người có ruộng đất nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền, đem đặt dưới chân các tông đồ. Tiền ấy được phân phát cho mỗi người, tùy theo nhu cầu&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (&lt;/i&gt;Cv 4, 32. 34). Đó là một xã hội cộng sản lý tưởng nhất trong lịch sử: mọi người đều làm theo khả năng và hưởng thụ theo nhu cầu, trong một tình yêu thương nhau thực sự. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;N&lt;/b&gt;gười giàu có thường có nhiều vật dụng thừa thãi mà họ không cần dùng, nên những vật ấy không được săn sóc và để hoang phí trong khi hàng triệu người thiếu thốn, thậm chí không đủ ăn và chết đói. Nếu mỗi người &lt;i&gt;chỉ giữ cho mình những món mà mình thực sự cần dùng thôi, thì những người khác không ai thiếu gì cả&lt;/i&gt;, và ai ai cũng được no đủ hạnh phúc. Do đó, &lt;i&gt;Đức Thanh Bần đòi hỏi ta nên cho đi những vật dụng mà mình không dùng tới, hay dư thừa&lt;/i&gt; (đồ đạc, quần áo, vật dụng…). &lt;i&gt;Có quá nhiều vật thừa thãi không dùng tới, mà người khác đang cần dùng tới, là một dấu chỉ lỗi Đức Thanh Bần&lt;/i&gt;. Khi có lòng tham, thì người giàu cũng như người nghèo đều bất mãn, đều không hạnh phúc. Người nghèo thì khổ vì thiếu thốn, đồng thời chỉ mong muốn có một cơ hội tốt đẹp nào đó mình sẽ trở thành triệu phú. Còn người đang là triệu phú thì lại mong muốn và cố gắng làm sao để mình trở thành tỷ phú.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;div style="text-align: left; color: rgb(0, 0, 153);"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;b&gt;SỐNG ĐỨC THANH BẦN &lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: left; color: rgb(0, 0, 153);"&gt; &lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;b&gt;ĐỂ XÂY DỰNG NƯỚC TRỜI TẠI TRẦN GIAN &lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;T&lt;/b&gt;ất cả mọi ngôn sứ đến từ Thiên Chúa đều lưu tâm đến vấn đề xã hội này. Tất cả các ngôn sứ đều đòi hỏi Dân Chúa phải thực hiện công lý, tạo sự công bằng trong xã hội. Ngôn sứ Isaia là ngôn sứ đề cập rất nhiều đến vấn đề này. Ông lên tiếng kết án những kẻ tạo ra những luật lệ bất công, và những kẻ sống bất công: «&lt;i&gt;Khốn cho những kẻ lập luật không công bình, (…&lt;/i&gt;), &lt;i&gt;khốn cho những kẻ đối xử bất công với người nghèo, không dùng lẽ phải mà dối xử với những kẻ khốn khó trong Dân Ta, ức hiếp kẻ góa bụa, đàn áp kẻ mồ côi&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (Is 10, 1-2&lt;/i&gt;). Đức Kitô cũng rất lưu tâm đến vấn đề này và Ngài đưa ra cách giải quyết. Cách giải quyết của Đức Kitô trong vấn đề xã hội này là đề nghị người giàu có từ bỏ lòng tham, bằng cách chia bớt của cải cho người nghèo khổ hơn mình, để họ cũng được no đủ. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;T&lt;/b&gt;hật vậy, nếu người giàu có chỉ giảm bớt tài sản của mình xuống tới mức độ đủ sống, thì tất cả mọi người trên thế giới đều dư dật, không ai thiếu thốn nữa. Nhưng làm sao Ngài có thể phát động tinh thần đó cho tất cả những người giàu có trên thế giới, nếu Ngài không đòi hỏi những kẻ theo Ngài, những môn đệ của Ngài, cụ thể là các linh mục tu sĩ &lt;i&gt;thực hành điều đó trước tiên để làm gương&lt;/i&gt;. Vì thế, ai đến xin theo Ngài, thì Ngài cũng đề nghị với họ thủ tục đầu tiên là: «&lt;i&gt;Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi &lt;/i&gt;&lt;b&gt;bán tài sản&lt;/b&gt;&lt;i&gt; của anh và đem &lt;/i&gt;&lt;b&gt;cho người nghèo&lt;/b&gt;&lt;i&gt;, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (Mt 19, 21&lt;/i&gt;). Có chấp nhận được điều kiện đó thì mới theo Ngài được. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;N&lt;/b&gt;hưng rất tiếc &lt;i&gt;những kẻ theo Ngài sau này hầu hết đã không thực hiện thủ tục đầu tiên đó&lt;/i&gt;: họ vẫn có thể đang tâm sống rất đầy đủ, thừa mứa, giữa những người nghèo khổ không đủ sống, mà vẫn cứ tự hào mình là người theo Đức Kitô, thậm chí là «&lt;i&gt;Kitô thứ hai&lt;/i&gt;»&lt;i&gt;! &lt;/i&gt;Có phải đề nghị của Ngài không thực tế, hay không thể làm được? vì chính những kẻ theo Ngài, những kẻ rao giảng Tin Mừng của Ngài, là «&lt;i&gt;Tin Mừng cho người nghèo khổ&lt;/i&gt;», áp dụng còn không được, làm sao những người khác, nhất là những người không phải là Kitô hữu áp dụng được? &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;C&lt;/b&gt;hắc chắn Đức Kitô không chủ trương hay ước mong mọi người trên thế giới đều sống nghèo khổ. Trái lại, Ngài muốn &lt;b&gt;mọi người&lt;/b&gt;&lt;i&gt; đều được đầy đủ, no ấm, giầu có&lt;/i&gt;. Ngài mong cho &lt;i&gt;tất cả mọi người&lt;/i&gt;, chứ không phải chỉ mong cho một số nhỏ người! Theo minh họa người mẹ mua vải cho cả gia đình ở trên, thì đương nhiên ở vào địa vị người mẹ, Ngài sẽ muốn số vải mua cho cả nhà (50 mét) càng ngày càng tăng lên, để mỗi người không phải chỉ được 5 mét, mà là 10 mét, hay 20 mét, càng nhiều càng tốt. Nhưng điều quan trọng là &lt;i&gt;sự phân phối phải tương đối đồng đều để ai cũng được nhiều cả&lt;/i&gt;. Ngài không thể chấp nhận tình trạng có người quá dư (40 mét) và có người lại quá thiếu thốn (chỉ có hơn 1 mét). Việc Ngài đề nghị người có quá nhiều, có vượt mức trung bình, chia bớt cho người khác có quá ít, &lt;i&gt;chỉ là để thiết lập lại sự công bình &lt;/i&gt;trong việc phân phối của cải, chứ Ngài &lt;i&gt;tuyệt nhiên không chủ trương hạn chế, muốn tất cả mọi người đều trở thành nghèo&lt;/i&gt; đâu. Ngài muốn ai cũng phải có được mức trung bình (5 mét vải), và làm sao để tăng mức trung bình ấy lên càng nhiều càng tốt. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;N&lt;/b&gt;hư vậy, Đức Thanh Bần mà Ngài chủ trương và mời gọi thực hiện chỉ là một &lt;i&gt;phương thuốc tạm thời&lt;/i&gt; để chữa trị căn bệnh mất quân bình, quá chênh lệch và bất công của thế giới, của xã hội về của cải vật chất thôi. Khi nào tất cả mọi người đều đầy đủ, ấm no, giầu có, của cải được phân phối đồng đều, thì những người theo Ngài cũng phải sống giầu có để hòa mình với mọi người. Lúc đó Đức Thanh Bần có lẽ sẽ không còn hợp thời nữa. Bệnh đã hết, không cần uống thuốc nữa! Hoặc lúc đó, Đức Thanh bần chỉ còn là tinh thần siêu thoát, không bị ràng buộc bởi của cải vật chất mà thôi.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;N&lt;/b&gt;hư vậy, khi thế giới còn đầy dẫy bất công, của cải phân phối chưa hợp lý, nếu càng có nhiều người thiện chí tự nguyện chấp nhận sống nghèo, thì số người giầu có vượt mức sẽ càng ít đi, số người quá nghèo khổ càng giảm đi, của cải càng được phân phối đồng đều hơn. Lúc đó sự chênh lệch giàu nghèo sẽ giảm xuống hoặc mất hẳn, &lt;i&gt;ai ai cũng có đủ điều kiện sống đầy đủ và hạnh phúc&lt;/i&gt;. Và &lt;i&gt;đó chính là Nước Trời ở trần gian mà Ngài muốn loan báo và thực hiện qua các Kitô hữu, những người theo Ngài&lt;/i&gt;. Hành vi tự nguyện sống nghèo khó, tức Đức Thanh Bần, vì thế, mang tính cứu thế (messianique) với chiều kích xã hội, nhắm làm xã hội trở nên công bằng hơn. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;H&lt;/b&gt;ành vi đó chỉ có thể thực hiện được khi nó &lt;i&gt;được thúc đẩy bởi tình yêu đại đồng (Bác Ái&lt;/i&gt;). Vì thế, Đức Thanh Bần là một phương cách thể hiện tình yêu. &lt;i&gt;Chính tình yêu làm cho hành vi sống nghèo thành nhân đức&lt;/i&gt;. Không có tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân, không có sự tự nguyện chấp nhận sự thiếu thốn với mục đích làm cho người nghèo khổ bớt nghèo khổ, thì việc sống nghèo khổ đó không phải là nhân đức. Chẳng hạn, sống nghèo &lt;i&gt;chỉ vì&lt;/i&gt; luật dòng buộc phải như vậy, sống nghèo vì mình chẳng biết làm sao có tiền để sống đầy đủ hơn, sống nghèo để được tiếng là thánh thiện, nhân đức, sống nghèo vì lười biếng, tệ hơn nữa là sống nghèo, sống hà tiện để tích trữ hay để dành được nhiều tiền bạc của cải hơn…. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;Đ&lt;/b&gt;ức Kitô muốn chúng ta sống nghèo là để chia bớt của cải cho người khác nghèo hơn, khó khăn hơn, chứ không phải để ta để dành được nhiều hơn. Ngài muốn những người theo Ngài phải đặc biệt biểu lộ tình yêu của mình đối với đồng loại một cách cụ thể như thế: «&lt;i&gt;Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em yêu thương nhau&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (Ga 13, 35&lt;/i&gt;). Biết bao Kitô hữu sống khó nghèo, khổ hạnh không phải với mục đích chia sẻ của cải cho người nghèo khổ hơn mình, mà vẫn cứ tưởng làm như thế là giữ đức thanh bần! Thực ra sự thanh bần chỉ là nhân đức khi có mục đích bác ái, chia sẻ mà thôi!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;HAI THỨ NGHÈO KHỔ&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;C&lt;/b&gt;ha Aloysius Pieris, một thần học gia Á Châu, phân biệt hai loại nghèo: &lt;i&gt;nghèo ép buộc&lt;/i&gt; và&lt;i&gt; nghèo tự nguyện. &lt;/i&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; -&lt;b&gt;N&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;ghèo ép buộc&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; là cái nghèo do hoàn cảnh, do những yếu tố bên ngoài, hay do người khác gây ra cho ta, và ta coi đó như một sự dữ, cực chẳng đã phải chịu. Nó là hậu quả của sự dữ, sự dữ do chính ta gây ra hay do người khác gây ra cho ta. Đây là thứ nghèo cần phải chống lại, là sự dữ đích thực. Người ta càng không muốn chấp nhận nó bao nhiêu, người ta càng bị ép buộc phải chịu bao nhiêu, thì nó càng trở nên sự dữ, càng gây nên đau khổ bấy nhiêu. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; -&lt;b&gt;C&lt;/b&gt;òn cái nghèo kia là &lt;b&gt;&lt;i&gt;nghèo tự nguyện&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;, do ta xung phong chấp nhận nó, để chia sẻ thân phận hẩm hiu với những người nghèo khổ ép buộc, để giảm bớt sự chênh lệch giữa họ với ta, để hòa mình với họ hầu cứu độ họ như cách của thánh Phaolô: «&lt;i&gt;Với người yếu đuối, tôi cũng trở thành yếu đuối để chinh phục những kẻ yếu đuối. Tôi đã trở nên đủ kiểu đủ loại vì mọi người, để cứu độ họ&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (1 Cr 9, 22&lt;/i&gt;). Cái nghèo này chính là Đức Khó Nghèo hay Đức Thanh Bần mà Đức Kitô muốn những người theo Ngài phải có. Cái nghèo này là dấu hiệu của tình yêu, của Đức Ái Kitô giáo. Cái nghèo này rất cần thiết để &lt;i&gt;xoa dịu, làm giảm bớt nỗi đau khổ của cái nghèo kia&lt;/i&gt;. Nói cách khác, &lt;i&gt;cái nghèo này cứu độ cái nghèo kia&lt;/i&gt;. Và có dám tự nguyện sống nghèo, mới có thể cứu người nghèo thoát khỏi cảnh nghèo. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;N&lt;/b&gt;hư vậy, khi Đức Kitô nói: «&lt;i&gt;Phúc cho những người &lt;b&gt;nghèo khó&lt;/b&gt;, vì Nước Trời là của họ&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (&lt;/i&gt;Lc 6, 20), hay: «&lt;i&gt;Phúc cho những người có &lt;b&gt;tinh thần nghèo khó&lt;/b&gt;&lt;/i&gt;…»&lt;i&gt; (&lt;/i&gt;Mt 5, 3), thì Ngài muốn nhắm đến loại nghèo khổ nào? Rõ ràng câu của Matthêu cho thấy Ngài muốn nói tới những người nghèo khó trong tinh thần -là những người tự nguyện chấp nhận cái nghèo để chia sẻ sự bất hạnh với những người nghèo khổ bó buộc -hơn là người nghèo khổ bất đắc dĩ. Điều đó thật hữu lý, vì những người như vậy đúng là những người có tâm hồn cao thượng, đầy yêu thương; đặc tính ấy là điều kiện quan trọng phải có để vào Nước Trời. Còn những người cực chẳng đã phải chịu thân phận nghèo, thì tâm hồn họ có gì là cao thượng đâu? Rất nhiều người vì hoàn cảnh mà phải lâm vào cảnh nghèo, tới khi họ may mắn trở thành giầu có (do làm ăn thuận lợi, do trúng số…), thì họ trở thành hống hách, kiêu căng, thậm chí phản bội: «&lt;i&gt;Giầu đổi bạn, sang đổi vợ&lt;/i&gt;». Như vậy, không có gì bảo đảm chắc chắn rằng những người nghèo khổ do hoàn cảnh đều có tâm hồn cao thượng, yêu thương cả. Do đó, cứ lý này, thì mối phúc thứ nhất không thể nhắm tới những người cực chẳng đã mà phải nghèo. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;T&lt;/b&gt;uy nhiên, &lt;i&gt;Đức Kitô đến là vì những người nghèo khổ thực sự&lt;/i&gt;, vì những người nghèo bất đắc dĩ này, hơn là vì những người nghèo tự nguyện. Ngài đến để giải phóng họ, vì chính họ mới là người cần được giải phóng. Ngài tuyên bố: «&lt;i&gt;Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần… Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (Mt 9, 12-13&lt;/i&gt;). Những người nghèo khổ tự nguyện đương nhiên được kể là người khỏe mạnh, là người công chính rồi, Ngài không nhắm đến vì những người đó. Ngôn sứ Isaia đã xác định rõ đối tượng của Ngài là những người nghèo, nghèo cả tinh thần lẫn vật chất: «&lt;i&gt;Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng &lt;/i&gt;&lt;b&gt;cho kẻ nghèo hèn&lt;/b&gt;»&lt;i&gt; (Is 61, 1; Lc 4, 18&lt;/i&gt;). Để chứng minh với các đồ đệ của Gioan Tẩy Giả rằng mình là Đấng Mêsia, Đức Kitô đã đưa ra những dấu hiệu đặc trưng của thời đại Đấng Mêsia: «&lt;i&gt;Người mù thấy được, kẻ điếc nghe được, kẻ què đi được, người cùi sạch bệnh, người chết sống lại, và &lt;b&gt;kẻ nghèo được nghe Tin Mừng&lt;/b&gt;&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (Lc 7, 22&lt;/i&gt;). &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;N&lt;/b&gt;hư vậy, Đức Kitô đến để giải phóng những người bất hạnh, đau khổ, điều đó nói lên rõ ràng là &lt;i&gt;người nghèo ở đây không phải là nghèo tự nguyện, mà là ép buộc&lt;/i&gt;. Và điều đáng ngạc nhiên vào thời của Ngài là những người nghèo, bất hạnh và tội lỗi lại theo Ngài đông hơn những người khác. &lt;i&gt;Tin Mừng của Đức Kitô là Tin Mừng cho người nghèo khổ, bất hạnh&lt;/i&gt;. Do đó, &lt;i&gt;người nghèo dễ tiếp nhận Tin Mừng hơn những người khác&lt;/i&gt;. Và đó chính là hạnh phúc của họ. Họ có phúc không phải vì cái nghèo của họ, mà vì nhờ họ nghèo khổ mà họ dễ đón nhận Tin Mừng nhất, và nhờ đó họ được cứu độ. Người giầu có khó chấp nhận Tin Mừng hơn, do đó họ không hưởng được niềm hạnh phúc lớn lao của Tin Mừng bằng người nghèo, nên xét về mặt cứu độ, họ trở nên bất hạnh hơn người nghèo. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;T&lt;/b&gt;uy nhiên, kinh nghiệm thực tế của chúng ta cho thấy: người nghèo thường yêu thương nhau hơn, hy sinh cho nhau hơn, sống chân tình và khiêm nhượng hơn những người giầu có, uy quyền. Đương nhiên có rất nhiều người trong họ, &lt;i&gt;vì sống ngay thẳng, không lươn lẹo, không coi trọng tiền bạc vật chất hơn tình nghĩa, và dành thì giờ cho đời sống tâm linh, nên họ nghèo hoài&lt;/i&gt;. Đây chính là những kẻ &lt;i&gt;được Thiên Chúa chúc phúc&lt;/i&gt;. Cũng có nhiều người nghèo khổ vì lười biếng, vì rượu chè cờ bạc… Những người này không thể có phúc được. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;C&lt;/b&gt;òn những người giầu có thường phải bảo vệ những gì họ có, vì họ sợ mất, nên họ khó sống chân tình với nhau, và dễ đặt nặng tiền bạc hơn tình người. Vả lại, không dễ gì cứ sống thành thật, không giả dối, không mưu mô lươn lẹo, không bất công mà có thể giầu có vượt bậc được. Cổ nhân nói: «&lt;i&gt;Vi nhân bất phú, vi phú bất nhân&lt;/i&gt;»&lt;i&gt;. &lt;/i&gt;Câu này được giới bình dân diễn đạt theo cách khác: «&lt;i&gt;Phải hà tiện thì mới có, có bẩn như chó thì mới giầu&lt;/i&gt;», nhất là trong thời buổi kiếm tiền khó khăn như hiện nay. Nếu không yêu tiền bạc, đặt nặng vật chất, không sao lãng đời sống tâm linh, thì người ta cũng khó mà giầu có hơn người được. Kinh nghiệm đó khiến Đức Kitô phải thốt ra: «&lt;i&gt;Người giầu có khó vào Nước Trời hơn con lạc đà chui qua lỗ kim&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (Mt 19, 24&lt;/i&gt;). Nếu người giầu có khó vào Nước Trời, thì chắc hẳn &lt;i&gt;người nghèo dễ vào Nước Trời hơn&lt;/i&gt;. Người nghèo vì không có tiền của, nên họ thường sống bằng tình cảm. Họ nghèo tiền bạc, nhưng thường giầu tình nghĩa hơn người giầu có. Vì thế, họ cũng dễ có «&lt;i&gt;tinh thần nghèo khó&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;hơn người giầu&lt;i&gt;, &lt;/i&gt;do đó, họ có phúc hơn. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;V&lt;/b&gt;ậy, mối phúc đầu tiên cũng có thể hiểu là dành cho người nghèo thực sự, nghèo vì hoàn cảnh, miễn là khi tiếp xúc với Tin Mừng, họ tin và theo Đức Kitô. Và đó là cách hiểu của Luca: «&lt;i&gt;Phúc cho &lt;b&gt;người nghèo khó&lt;/b&gt; vì Nước Trời là của họ&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (Lc 6, 20&lt;/i&gt;). Hai cách hiểu, cách nào cũng có lý của nó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;ĐỨC THANH BẦN CÓ ĐÒI HỎI PHẢI NGHÈO KHÓ THỰC SỰ KHÔNG? &lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;T&lt;/b&gt;uy nhiên, trong số những người theo Chúa, nhiều người chủ trương &lt;i&gt;chỉ cần có tinh thần nghèo khó là đủ rồi, không cần phải sống nghèo thực sự&lt;/i&gt;. Tinh thần nghèo khó được họ hiểu là tinh thần siêu thoát, không bị ràng buộc vào vật chất, tiền bạc, coi mình chỉ là người quản lý những gì mình có, chứ không phải là chủ của chúng. &lt;i&gt;Có tinh thần siêu thoát đó được kể là có Đức Thanh Bần rồi&lt;/i&gt;. Nghĩ như thế hoàn toàn đúng nguyên tắc, không sai chỗ nào cả, vì &lt;i&gt;Đức Thanh Bần hệ tại tinh thần, chứ không hệ tại tình trạng sống nghèo khổ hay khó khăn thực sự&lt;/i&gt;. &lt;i&gt;Nếu không có tinh thần siêu thoát, và nếu không có tình yêu thương, thì sự nghèo khổ thực sự kia không phải là Đức Thanh Bần. &lt;/i&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;N&lt;/b&gt;hưng trong thực tế, tinh thần nghèo khó đích thực đòi hỏi phải được thể hiện bằng sự nghèo khó thực sự. Đức Kitô đòi hỏi những người theo Ngài phải «&lt;i&gt;bán tài sản và cho người nghèo&lt;/i&gt;», để làm gương cho biết bao người khác tạo sự công bằng xã hội. Và chính Ngài đã thực sự sống rất nghèo khó: «&lt;i&gt;Cáo có hang, chim có tổ, còn Con Người không có chỗ dựa đầu&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (&lt;/i&gt;Mt 8, 20). Nếu không có sự nghèo khó thực sự đó, thì Đức Thanh Bần «&lt;i&gt;duy tinh thần&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;kia chỉ là Đức Thanh Bần «&lt;i&gt;chết&lt;/i&gt;», giả hiệu. Cũng tương tự như người ta trở nên công chính là nhờ Đức Tin chứ không phải nhờ việc làm (x. Rm 4, 3-6) ; tuy nhiên, «&lt;i&gt;Đức Tin không có việc làm là đức tin chết&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (&lt;/i&gt;Gc 2, 26), nghĩa là một Đức Tin đích thực tất yếu phải được thể hiện bằng việc làm. Như vậy, không thể căn cứ vào việc làm mà nói được rằng một người nào đó có đức tin. Nhưng rõ ràng nếu không có việc làm thì đó không phải là đức tin đích thực. Cũng vậy, không phải cứ sống trong cảnh nghèo khó là có Đức Thanh Bần, nhưng nếu không tự nguyện sống trong cảnh nghèo khó thực sự, nếu vẫn cứ duy trì đời sống nhung lụa xa hoa, thì khó lòng nói được là người đó có Đức Thanh Bần.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;div style="text-align: left; color: rgb(0, 0, 153);"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;b&gt;SỐNG ĐỨC THANH BẦN &lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: left; color: rgb(0, 0, 153);"&gt; &lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;b&gt;ĐỂ GẮN BÓ VỚI THIÊN CHÚA HƠN&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;Đ&lt;/b&gt;ức Thanh Bần không phải chỉ mang chiều kích xã hội như đã trình bày trên, mà nó là&lt;i&gt; một trong những điều kiện tâm linh rất thuận lợi cho đời sống trọn lành&lt;/i&gt;. Chiều kích tâm linh này của Đức Thanh Bần đòi hỏi người tu sĩ một tinh thần siêu thoát, tâm hồn không bị dính bén hay gắn bó với của cải vật chất. Nhờ không dính bén với tiền bạc vật chất mà họ gắn bó với Thiên Chúa chặt chẽ hơn. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;G&lt;/b&gt;iữa Thiên Chúa và tiền bạc vốn có một sự «&lt;i&gt;đố kỵ&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;không thể thỏa hiệp với nhau trong cùng một con người. Đức Kitô đã diễn tả sự đố kỵ đó: «&lt;i&gt;Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hễ mến chủ này thì tất nhiên ghét chủ kia, hễ gắn bó với chủ này thì sẽ coi thường chủ kia. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền bạc&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (Lc 16, 13&lt;/i&gt;). Qua sự song đối trên, ta thấy: theo Đức Kitô, đối thủ của Thiên Chúa trong tâm hồn con người không phải là Satan, mà là &lt;i&gt;Mammon (tiền bạc&lt;/i&gt;). Nói khác đi, &lt;i&gt;Mammon là một phương tiện hữu hiệu nhất của Satan&lt;/i&gt;. Thiên Chúa và Mammon không thể cai trị cùng một lúc trong tâm hồn một người: hễ sốt sắng với chủ này thì tất phải lơ là với chủ kia. Do đó, &lt;i&gt;muốn kết hiệp chặt chẽ với Thiên Chúa, ắt phải coi thường tiền bạc&lt;/i&gt;. Hiện nay, có biết bao nhiêu người, kể cả linh mục tu sĩ, bề ngoài thì tôn thờ Thiên Chúa, nhưng bề trong đã quỳ gối lụy phục &lt;i&gt;Mammon&lt;/i&gt; từ lâu rồi! &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;T&lt;/b&gt;uy nhiên con người luôn luôn bị giằng co giữa hai thế lực hằng lôi kéo mình: một bên là Thiên Chúa, một bên là tiền bạc, vật chất. Khi con người còn để cho mình ở trong cái thế bị giằng co ấy thì con người không bao giờ được bình an, hạnh phúc. Khi đó, con người luôn luôn phải tranh đấu với chính mình. Bản thân con người dường như bị phân thân thành hai: con người vị Thiên Chúa chiến đấu với con người vị tiền bạc. Con người tâm linh chỉ có thể hạnh phúc được khi nó dứt khoát với tiền bạc và những thực tại trần thế khác, đồng thời hoàn toàn gắn bó với Thiên Chúa. &lt;i&gt;Hạnh phúc đó thật là lớn&lt;/i&gt;, được Đức Kitô diễn tả: «&lt;i&gt;Chẳng hề có ai đã bỏ nhà cửa, vợ con, anh em, chị em, cha mẹ, ruộng đất vì Nước Thiên Chúa, mà lại không &lt;/i&gt;&lt;b&gt;được gấp bội ngay ở đời này&lt;/b&gt;&lt;i&gt; và không được sự sống vĩnh cửu đời sau&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (Lc 18, 29-30&lt;/i&gt;). &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; «&lt;b&gt;H&lt;/b&gt;&lt;i&gt;ạnh phúc được gấp bội ngay ở đời này&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;đó là gì? Đó là hạnh phúc của người đã cảm nghiệm được Thiên Chúa, cảm nghiệm được Chân Lý và sự Thiện Tối thượng. Cảm nghiệm đó rất mạnh và chỉ đến với ta một cách tràn đầy sau khi ta đã dành cho Thiên Chúa một địa vị tối thượng và duy nhất trong tâm hồn, sau khi ta đã sẵn sàng từ bỏ tất cả để được Ngài. Cũng như người đi tìm ngọc quí: &lt;i&gt;Tìm được rồi, anh ta trở về bán mọi của cải để mua cho kỳ được viên ngọc quí ấy&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (Mt 13, 45-46&lt;/i&gt;). «&lt;i&gt;Viên ngọc quí&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;ấy chỉ có thể mua được sau khi bán hết tất cả tài sản của mình một cách vui vẻ, không tiếc xót. Đương nhiên «&lt;i&gt;viên ngọc quí&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;đó phải có giá trị gấp hàng trăm lần tài sản mình đã bán đi. Đối với những người đã thực sự hưởng nếm hạnh phúc do đạt được «&lt;i&gt;viên ngọc quí&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;đó, thì đây quả là «&lt;i&gt;mua đồ thật bằng tiền giả&lt;/i&gt;»&lt;i&gt;, &lt;/i&gt;dùng của cải hay hư nát để mua một kho tàng không bao giờ hư nát được (&lt;i&gt;x. Mt 12, 33&lt;/i&gt;). Hạnh phúc đó được minh họa trong câu chuyện sau đây: &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;C&lt;/b&gt;ó vị bề trên một tu viện nổi tiếng thánh thiện và hạnh phúc. Một tu sinh dưới quyền ngài, khi biết được sự từ bỏ ít người làm được, và thấy đời sống hết sức thánh thiện của ngài, bèn thốt lên: &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; -«&lt;b&gt;T&lt;/b&gt;&lt;i&gt;hưa Cha, đời sống Cha thật là tuyệt vời, Cha đã từ bỏ mọi sự giàu sang sung sướng để tìm Thiên Chúa, và để dạy cho chúng con sự khôn ngoan của Ngài&lt;/i&gt;». &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; -«&lt;b&gt;C&lt;/b&gt;&lt;i&gt;on đã nói phản lại sự thật rồi! &lt;/i&gt;&lt;i&gt;-&lt;/i&gt;&lt;i&gt;Vị bề trên trả lời &lt;/i&gt;&lt;i&gt;-&lt;/i&gt;&lt;i&gt;Cha chỉ bỏ có vài cuộn giấy bạc và những thú vui trần tục để chinh phục &lt;b&gt;một niềm phúc lạc vô biên. So với cái kho tàng tâm linh quí báu này thì đó có thật là một sự hy sinh chăng?&lt;/b&gt; Trái hẳn lại, chính những người thế gian đã &lt;b&gt;từ bỏ và hy sinh những kho tàng tâm linh vô giá trên đường Đạo&lt;/b&gt; để chạy theo những của cải vật chất giả tạm vô thường. &lt;/i&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; «&lt;b&gt;N&lt;/b&gt;&lt;i&gt;hững vị khổ tu tuy áo quần đơn sơ thô thiển, trong người không giữ riêng một đồng bạc, lại trở thành những phú ông về tâm linh. Còn những người tỷ phú kiêu hãnh lại là những kẻ đáng thương về tâm linh mà không hay biết. Đó chính là điều mâu thuẫn về sự dứt bỏ và hy sinh. Thiên Chúa vẫn lo cho tương lai của chúng ta một cách vô cùng khôn ngoan và sáng suốt hơn bất cứ một công ty bảo hiểm xã hội nào. Thế gian đầy đầy dẫy những kẻ băn khoăn chờ đợi một sự cứu giúp từ bên ngoài. Những tư tưởng đắng cay của họ hiện ra rõ ràng trên khuôn mặt họ, không dấu được ai. Nếu Đấng Tối Cao đã ban cho con người từ thuở sơ sinh không khí trong lành và sữa mẹ, chắc chắn Ngài cũng sẽ lo liệu cung cấp mọi thứ nhu cầu hằng ngày cho những đứa con của Ngài&lt;/i&gt;». &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;H&lt;/b&gt;enry Miller đã diễn tả niềm hạnh phúc của người có tinh thần siêu thoát: «&lt;i&gt;Tôi tin rằng người hạnh phúc nhất trần gian là người ít có nhu cầu nhất. Sự nghèo nàn không thể làm ta khốn khổ… Tôi có thể nói như vậy bởi vì chính tôi đã nghèo suốt cuộc đời. Nhưng về tinh thần thì tôi là một triệu phú&lt;/i&gt;»&lt;i&gt;. &lt;/i&gt;Ông coi trọng những giá trị tinh thần hơn những giá trị vật chất gấp nhiều lần:&lt;i&gt; &lt;/i&gt;«&lt;i&gt;Tôi thà làm một người Hy Lạp nghèo nàn hơn là làm một chàng triệu phú Mỹ, làm người nghèo ở Paris còn hơn làm triệu phú ở New York&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (&lt;/i&gt;Thời của ông, Hy Lạp và Paris tượng trưng cho những gì là tinh thần, còn Mỹ hay New York tượng trưng cho những gì là vật chất, tiền bạc). &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;T&lt;/b&gt;heo tiên sinh Ohsawa, thì sống đơn sơ, ít nhu cầu, chính là bí quyết để sống mạnh khỏe và giữ gìn sức khỏe, sức khỏe tinh thần cũng như thể chất: «&lt;i&gt;Nếu các bạn không quyết chí sống một cuộc đời đơn giản và ít tốn kém như khẩu hiệu &lt;/i&gt;«&lt;i&gt;Vivere parvo&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (sống khó nghèo&lt;/i&gt;), &lt;i&gt;là câu đã trở thành một chìa khóa vàng để mở kho sức khỏe, thiết tưởng các bạn không nên chữa bệnh làm gì, vì bệnh của các bạn không thể chữa tuyệt gốc được&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (&lt;/i&gt;Ohsawa). &lt;i&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/i&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;N&lt;/b&gt;iềm hạnh phúc của một người đã hoàn toàn dứt khoát với mọi dính bén của cải trần tục thì thanh cao, lâu dài, không mất đi được. Vì những yếu tố làm nên niềm hạnh phúc ấy không ai có thể lấy mất được, khác hẳn với những yếu tố làm nên sự an tâm vật chất hay những niềm vui chóng qua. Khi đã lựa chọn Thiên Chúa một cách dứt khoát, tâm hồn không còn dính bén với tiền bạc vật chất, thì ta &lt;i&gt;không còn gì phải lo lắng&lt;/i&gt;: ta đã dành hết tâm trí để lo cho Thiên Chúa và những công việc của Ngài, thì đáp lại, &lt;i&gt;Ngài sẽ hoàn toàn lo cho ta tất cả những gì thuộc nhu cầu của ta, tinh thần cũng như vật chất&lt;/i&gt;. Chỉ những ai đã thực sự lựa chọn dứt khoát như thế, mới cảm nghiệm được điều ấy, và mới thấy đó là sự thật. Cứ thử, sẽ biết. Chính Đức Kitô đã bảo đảm như thế: «&lt;i&gt;Đừng lo cho mạng sống&lt;/i&gt;: &lt;i&gt;lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể&lt;/i&gt;: &lt;i&gt;lấy gì mà mặc…. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước tiên, anh em hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Ngài, còn tất cả những thứ kia, Ngài sẽ thêm cho. Anh em cũng đừng lo lắng về ngày mai&lt;/i&gt;: &lt;i&gt;ngày mai, cứ để ngày mai lo&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; (Mt 6, 25. 32b-34&lt;/i&gt;). &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;Y&lt;/b&gt;ogananda, một tu sĩ Ấn độ giáo nổi tiếng, diễn đạt sự phó thác đó như sau: «&lt;i&gt;Ta đừng bao giờ nghĩ rằng ta sống không phải nhờ ở Thượng Đế mà chỉ nhờ ở đồ ăn. Thượng Đế đã sáng tạo ra đồ ăn và đã cho ta biết đói bụng, chắc hẳn Ngài sẽ lo chu đáo cho ta khỏi phải thiếu thốn điều gì. Ta đừng nghĩ rằng cơm gạo ban cho ta sự sống, và tiền bạc hay người đời có thể nuôi dưỡng ta được. Họ có thể nuôi sống ta được không nếu Thượng Đế thu hồi lại khỏi ta hơi thở và sự sinh tồn? Họ chỉ là những khí cụ thụ động của Ngài mà thôi. Ta có thể bắt buộc cái bao tử tiêu hóa đồ ăn tùy theo ý muốn ta chăng?&lt;/i&gt;»&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt; &lt;/i&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;ĐỨC KITÔ ĐANG MỜI GỌI CHÚNG TA &lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;T&lt;/b&gt;ất cả mọi Kitô hữu, tất cả những người theo Đức Kitô, đều được mời gọi sống đơn sơ, nghèo khó, giảm bớt nhu cầu, &lt;i&gt;thứ nhất &lt;/i&gt;là để yêu thương và chia sẻ với những anh em đang bị dằn vặt đau khổ vì thiếu thốn vật chất, &lt;i&gt;thứ hai&lt;/i&gt; là để hưởng ứng lời kêu gọi của Đức Kitô nhằm xây dựng Nước Trời tại trần gian, trong đó mọi người đều sống đầy đủ dư dật vì người ta biết yêu thương chia sẻ cho nhau, không còn bất công và chênh lệch giàu nghèo quá lớn như hiện nay, &lt;i&gt;thứ ba&lt;/i&gt; là để tập trung mọi năng lực vào việc thánh hóa và hoàn thiện bản thân, bằng cách gắn bó triệt để với Thiên Chúa hay Đức Kitô. Sống như thế, chúng ta sẽ được hạnh phúc gấp bội ngay tại trần gian này, một hạnh phúc siêu nhiên thanh thoát không ai có thể lấy mất được, và cuối cùng, chúng ta sẽ được hạnh phúc vĩnh cửu. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;T&lt;/b&gt;ất cả mọi Kitô hữu đều được mời gọi sống như thế, huống gì những người đã lấy việc theo Đức Kitô, sống theo gương Ngài làm lý tưởng cho cuộc đới mình, và nhất là những người mà Giáo Hội gọi là &lt;i&gt;Alter Christus (Đức Kitô khác, Đức Kitô thứ hai&lt;/i&gt;). «&lt;i&gt;Đức Kitô khác&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;mà lại &lt;i&gt;khác Đức Kitô &lt;/i&gt;thì thật là mỉa mai! Các Kitô hữu phải làm gương cho thế giới về Đức Thanh Bần, còn các linh mục tu sĩ thì lại phải làm gương cho các Kitô hữu về nhân đức ấy. Đó là phương thức Đức Kitô đề nghị để chúng ta xây dựng Nước Trời một cách thực tế. Nước Trời được xây dựng &lt;i&gt;không thể chỉ bằng&lt;/i&gt; lời cầu nguyện, suy gẫm, lý thuyết, &lt;i&gt;mà còn bằng&lt;/i&gt; đời sống thực tế, bằng hành động thực sự nữa! &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;C&lt;/b&gt;húng ta có nghe thấy Đức Kitô đang mời gọi chúng ta không? &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);"&gt;NGUYỄN CHÍNH KẾT&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-2690295405211294851?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/2690295405211294851'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/2690295405211294851'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/09/ducthanhban.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-5981807434127955734</id><published>2009-09-04T21:11:00.000-07:00</published><updated>2009-09-09T13:14:07.053-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="color: rgb(153, 0, 0); font-weight: bold;font-size:180%;" &gt;ẨN TU GIỮA ĐỜI&lt;/span&gt;&lt;span style="color: rgb(153, 0, 0); font-weight: bold;font-size:180%;" &gt;&lt;br /&gt;Giáo sư Nguyễn Khắc Dương&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="color: rgb(153, 0, 0); font-weight: bold;font-size:180%;" &gt;(1925-)&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;NGUYỄN CHÍNH KẾT &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;Giáo sư NGUYỄN KHẮC DƯƠNG là một khuôn mặt khá độc đáo, vừa là một học giả và giáo sư, vừa là một “lãng tử” (chính thầy tự gọi mình như thế). Thầy là trưởng Ban Triết học và Quyền Khoa trưởng Văn khoa của Đại học Đàlạt trước 1975, được một số nhà trí thức miền Nam Việt Nam biết đến và dành cho rất nhiều thiện cảm. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Là sinh viên Đại học Đàlạt, tôi, Nguyễn Chính Kết, người viết bài nầy, đã từng là môn sinh học Triết với thầy Dương mấy năm liền. Hồi đó cũng như về sau, đặc biệt trong thập niên 1992-2002, tôi có khá nhiều dịp gặp và gần gũi thầy tại Sàigòn, để trao đổi, học hỏi và tâm sự với thầy, từ chuyện triết lý, nhân sinh quan đến chuyện tâm linh, tôn giáo, sống đạo trong thời điểm lịch sử Việt Nam hôm nay. Mặc dầu tuổi đời cách xa nhau 27 năm, thầy và tôi có nhiều điểm tương đồng và tương cảm. Tôi luôn cảm phục thầy vì tư tưởng thâm sâu, vì nếp sống thanh cao siêu thoát, đầy tinh thần nghèo khó và khiêm nhu. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Vừa là học trò triết lý vừa là “môn sinh” đạo lý của giáo sư Nguyễn Khắc Dương, tôi xin gợi lên dáng đứng và hành trình đức tin của thầy Dương trong bản trình thuật nầy, dựa vào cuốn hồi ký tự thuật mà thầy đã thương tặng tôi tháng 4 năm 1998. Cuốn hồi ký nầy dày 247 trang mà thầy đã viết xong trước đó 12 năm – năm 1986 – tại Đà-Lạt, với tựa đề tiếng la-tinh song song với tiếng Việt là «&lt;i&gt;Quia respexit humilitatem meam&lt;/i&gt;»: «&lt;i&gt;Vì Ngài đã đoái thương đến chút phận hèn của tôi&lt;/i&gt;». Đây là một lời trích từ bài Magnificat ca ngợi Thiên Chúa của Đức Maria (Tin mừng thánh Luca 1,48). Nhờ đọc cuốn hồi ký, cộng thêm với rất nhiều lần trao đổi, tâm sự thân mật với thầy, tôi hiểu được khá sâu tâm tư cũng như cuộc đời của thầy Dương. Trong bản trình thuật nầy, những nét chính yếu về hành trình gặp Chúa của thầy, tôi xin trưng dẫn từ cuốn hồi ký trên, vừa rất trong sáng, trung thực, vừa hết sức phong phú về mặt cảm nghiệm tâm linh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Di sản gia đình và văn hóa&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Thầy Nguyễn Khắc Dương sinh ngày 24-9-1925 tại thành phố Vinh,sống tuổi thơ ấu rất êm đềm với cha mẹ tại làng Thịnh Xá, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Trong một xã hội nửa phong kiến, nửa thực dân tư sản thời ấy, gia đình thầy được xếp vào loại “danh gia vọng tộc”. Thân phụ, cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm, là một nhà nho nổi tiếng học giỏi, đức độ. Sau khi đỗ đạt, cụ được bổ dụng vào chức Tư nghiệp Quốc tử giám tại Huế. Nhưng về sau, khi Nho học bị bãi bỏ, cụ được chuyển sang ngành quan lại hành chánh. Tuy không thích các chức vụ ấy cho bằng dạy học, cụ đành chấp nhận như một nghề nghiệp tốt để nâng đỡ gia đình vốn thanh bạch của cụ. Cụ đã từng làm Tri phủ huyện Anh Sơn, Án sát tỉnh Nghệ An, Phủ doãn tỉnh Thừa Thiên, và về hưu năm 1943 với phẩm hàm Hiệp Biện Thượng thư. Cụ là một vị quan thanh bạch, trung chính, không lấy danh vị làm vinh, và nổi tiếng thanh liêm nên được dân chúng rất mến phục. Cụ rất quen biết với các nhà cách mạng nổi tiếng như Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Võ Bá Hạp… &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Nhưng cuộc đời cụ kết cục khá bi thảm: năm 1953, năm cải cách điền địa, cụ bị kết án địa chủ và đưa đi cải tạo, rồi qua đời sau đó một năm. Thầy Dương viết về cha mình «&lt;i&gt;Hình ảnh thân phụ tôi có nhiều nét khả ái, đáng trọng của nhà Nho nhưng cũng gợi lên một cái gì bất túc, không hoàn hảo trong giai đoạn giao lưu văn hóa Đông-Tây lẫn lộn, xã hội bất an. Có lẽ chính cái giới hạn đó &lt;b&gt;đã khiến tôi có hướng tìm một cái gì khác hơn cái lý tưởng Nho giáo thời mạt vận&lt;/b&gt;, mang ít nét phong kiến với nếp sống quan lại, trước cách mạng 1945. Có lẽ tôi có &lt;b&gt;hoài vọng một thời Nho giáo Nghiêu Thuấn đã qua đi và không bao giờ có được nữa ở trần gian này! &lt;/b&gt;Có lẽ cũng vì vậy, không bao giờ tôi tin rằng cái vương đạo có thể thực hiện được trong lãnh vực chính trị trần thế. Tuy tôi có ít nhiều khao khát về độc lập, về mặt công bằng xã hội, nhưng tôi không bao giờ có lòng tin vào bất cứ một thuyết nào, một chủ nghĩa chính trị xã hội nào cả!&lt;/i&gt;». &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Tuy nhiên ảnh hưởng Nho giáo, tư tưởng Lão Trang, từ gia đình và xã hội thời ấy,cùng ảnh hưởng của Phật giáo không thể không gây ấn tượng trên tâm hồn cậu thiếu niên Nguyễn Khắc Dương. Ngay từ năm 11 tuổi, cậu đã chịu ảnh hưởng sâu đậm cảnh chùa chiền, với tư tưởng giải thoát của đạo Phật. Vì thế, mẫu người lý tưởng đối với cậu không phải là những nhà anh hùng cách mạng, hay những bậc trượng phu quân tử, mà là những nhà tu hành, đạo đức cao cả. Quan niệm “&lt;i&gt;đời là bể khổ&lt;/i&gt;” mà cậu nhìn thấy qua bao cảnh đời cùng khốn của dân chúng trong một đất nước bị đô hộ, cụ thể nhất là qua những cảnh khổ trong chính gia đình, anh chị em mình, đã làm cho hình ảnh nhà sư điềm đạm, an nhiên tụng kinh niệm Phật ngày càng in sâu vào tâm hồn thanh niên Nguyễn Khắc Dương. Ngoài ra, tình tự dân tộc, ước mong đất nước trở thành một xã hội công bằng, dân chúng an vui hạnh phúc, cũng là những yếu tố tác động trên tâm tư của người thanh niên đầy lý tưởng, nhận định rằng &lt;b&gt;Nho giáo&lt;/b&gt;, &lt;b&gt;Phật giáo&lt;/b&gt; và &lt;b&gt;dân tộc&lt;/b&gt; là “&lt;i&gt;ba tầng địa chất tâm lý&lt;/i&gt;”, như những lớp phù sa đọng lại trong tâm thức, trong chiều sâu vô thức của mình. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Từ các địa tầng đạo lý đó, khi thấy bạn bè mình theo Kitô giáo, thầy Dương thường chê trách, ngăn cản, vì thầy xem Kitô giáo như một thứ tôn giáo ngoại lai, chỉ dành cho những người thiểu trí: «&lt;i&gt;Chúng tôi – con nhà khoa bảng, học thức – hơi có vẻ khinh đạo Công giáo, cho như là một hình thức quyến rũ, mua chuộc, mê lú, mà các cố đạo đã dành cho một lớp người hạ lưu trong xã hội! Trong họ vừa có cái gì dễ ghét, vừa có cái gì đáng tội nghiệp như là những người bị mê hoặc&lt;/i&gt;».&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Nhưng một biến cố quan trọng xẩy ra là năm 1938, cậu Dương thi vào trường Quốc Học (Huế) bị trượt, nên phải thi vào trường Thiên Hựu, một trường công giáo tại Huế. Nơi đây, cậu được giáo dục trong tinh thần Kitô giáo: «&lt;i&gt;Khi tôi được trúng tuyển vào học ở trường Thiên Hựu, người chị kế tôi có nói với mẹ tôi rằng: – &lt;/i&gt;“&lt;i&gt;Mợ không sợ thằng Dương nó theo đạo sao?&lt;/i&gt;”&lt;i&gt; – Câu trả lời của tôi lúc ấy: &lt;/i&gt;“&lt;i&gt;Không bao giờ!&lt;/i&gt;”».&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Con đường của Thiên Hựu&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Việc thi rớt để rồi phải học ở trường Thiên Hựu, về sau thầy Dương nhận định được rằng đó là do sự an bài yêu thương của Thiên Chúa dành cho mình. «&lt;i&gt;Kỳ thi hạch vào trường Quốc Học Huế tôi bị hỏng!… Thế là mẹ tôi quyết định cho tôi theo học chương trình Pháp tại trường Thiên Hựu ở Huế, chứ không vào các trường tư thục theo chương trình của Đông Dương… Dầu sao, cái quyết định của mẹ tôi cho tôi thi vào trường Thiên Hựu quả là do &lt;/i&gt;“&lt;i&gt;Thiên Hựu&lt;/i&gt;”&lt;i&gt; (Providence: sự quan phòng, sự an bài xếp đặt của Thiên Chúa)&lt;/i&gt;». &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Trường Thiên Hựu có gì đặc biệt mà lại làm cho cậu học sinh đầy thành kiến về Kitô giáo đã trở thành Kitô hữu? – «&lt;i&gt;Vào học trường Thiên Hựu, tôi được dấn bước vào thế giới Công giáo, dần dần khám phá ra những giá trị của nó. Trước hết là các linh mục giáo sư. Điều làm tôi lưu ý là sự tận tâm chức nghiệp của các vị ấy. Ai đã có học trường tư thục Công giáo chắc đều nhận chân điều đó. Điều thứ hai là &lt;/i&gt;“&lt;i&gt;tình yêu người&lt;/i&gt;”&lt;i&gt; được bộc lộ qua cách đối xử. Tôi xin phân biệt &lt;/i&gt;“&lt;i&gt;yêu&lt;/i&gt;”&lt;i&gt; người với &lt;/i&gt;“&lt;i&gt;thương&lt;/i&gt;”&lt;i&gt; người. Đạo Khổng cũng dạy: thương người như thể thương thân; đạo Phật, cao hơn, còn dạy thương người, thương cả vạn vật chúng sinh, giúp người hoạn nạn, cứu người cùng khổ… Thì chủ nghĩa nào, tôn giáo nào cũng dạy thế cả; nhưng &lt;/i&gt;“&lt;i&gt;yêu&lt;/i&gt;”&lt;i&gt; người thì hình như chỉ có đạo Kitô mới dạy và mới giúp người ta thực hiện được&lt;/i&gt;».&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Để làm rõ nghĩa chữ “yêu”, tác giả Hồi ký viết cụ thể hơn: «&lt;i&gt;Yêu người đây là thái độ tương tự như thái độ của &lt;b&gt;người tình duy nhất: &lt;/b&gt;có cái gì trìu mến, yêu thương, đằm thắm, thiết tha, làm cho người ta có cảm tưởng mình được xem như là một giá trị duy nhất vô nhị và không thể thay thế của một người yêu… Trong tương quan tình yêu mình được nhìn nhận đúng phẩm giá làm người của mình, như là một ngã vị, một chủ thể duy nhất, như là được &lt;/i&gt;«&lt;i&gt;lên ngôi&lt;/i&gt;»». Tôn giáo nào cũng có nét độc đáo, vẻ đẹp riêng của nó, khiến tôn giáo ấy trở thành cuốn hút đối với các tín đồ của mình. Riêng Nguyễn Khắc Dương thì bị cuốn hút bởi cái tính chất «yêu người» trong những mối “tương quan liên ngã vị” của Kitô giáo, khiến thầy Dương thấy tôn giáo này hợp với mình hơn. Thầy so sánh giữa tính từ bi của Phật giáo với tính yêu của Kitô giáo: «&lt;i&gt;Tôi được hân hạnh quen biết một vị sư mà tôi hết sức kính mến, đó là một Thượng Tọa. Đứng về phương diện đạo đức luân lý, ngài là một bậc chân tu, đạo hạnh rất cao, có lẽ ít linh mục tu sĩ Công giáo nào sánh kịp. Thế nhưng mỗi lần tiếp xúc với ngài, tôi tuy biết rằng ngài có thể liều chết cứu tôi, nhưng động thái của ngài có cái gì lạnh nhạt. Tôi có cảm tưởng dù thương tôi hết sức, nhưng ngài thương tôi trong cái đại từ bi vô ngã đối với một chúng sinh vô ngã như bất cứ chúng sinh nào! Và tôi xin vô lễ (vì tôi rất kính mến ngài) mà cả gan suy diễn rằng có lẽ ngài xót thương cho cái chấp ngã hiện hữu của tôi, thay vì vui mừng vì hiện hữu của tôi như một &lt;/i&gt;“&lt;i&gt;ngã vị&lt;/i&gt;”&lt;i&gt;. Và xin thú thật rằng: tôi rất tôn kính Đức Thích Ca, nhưng mỗi lần chiêm ngưỡng tượng Ngài điềm nhiên trên trên tòa sen, tôi vẫn có cảm tưởng là tôi được chiếu rọi bởi ánh từ bi của Ngài, nhưng không có cảm tưởng được sưởi ấm cõi lòng bởi lửa yêu mến của Ngài&lt;/i&gt;» &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;  “Lửa yêu mến” mà Nguyễn Khắc Dương khao khát, thầy đã tìm thấy nơi Đức Giêsu: «&lt;i&gt;Chỉ có Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ, chịu chết vì môn đệ, và một vài vị thánh như Phanxicô Átxidi, Vinh Sơn Phaolô, mới yêu bất cứ người nào cũng như một người tình duy nhất. Tôi thấy rằng chính cách thức cư xử của các linh mục đều có ít nhiều cái gì tương tự! Sau này khi sống với các bạn Công giáo, tôi cũng đều có cái cảm giác như vậy. Thái độ này không phải là một đức hạnh hiểu theo nghĩa luân lý đạo đức mà là một động thái bắt nguồn từ một cảm thức dựa trên căn bản một nhận thức về giá trị con người&lt;/i&gt;». “Tình yêu” chính là yếu tố đã hấp dẫn Nguyễn Khắc Dương theo Kitô giáo: «&lt;i&gt;Đi vào thế giới Kitô giáo, tôi được nếm mùi vị của tình yêu, với cái gì ấp ủ, trìu mến, đằm thắm, da diết mà tôi không thấy ở nơi khác. Tôi cũng nhấn mạnh rằng là “&lt;b&gt;tình&lt;/b&gt; yêu người”, chứ không phải là “&lt;b&gt;đức&lt;/b&gt; thương người”. Tình yêu ấy là một động thái bộc phát từ tâm lý đã nhuần nhuyễn bởi một cái gì đối với mỗi một tha nhân. Còn đức thương người có thể nói như là kết quả dày công tu tập về luân lý đạo đức và cái nhìn về loài người nói chung&lt;/i&gt;»&lt;i&gt;. &lt;/i&gt;«&lt;i&gt;Sự hấp dẫn của Chúa Giêsu hình như do chính con người và cuộc đời của Ngài nhiều hơn là do đạo lý Ngài truyền dạy&lt;/i&gt;». &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Chính tại trường Thiên Hựu học sinh Nguyễn Khắc Dương đã nhận ra Tình yêu nơi người tu sĩ Kitô giáo «&lt;i&gt;Bề ngoài hào hoa bặt thiệp, không có vẻ gì là thoát tục mà lại là “Tu”! Tu mà miệng luôn nói tới “yêu mến “với những từ ngữ có vẻ đắm đuối say sưa. Lần đầu tiên tôi gặp một nhân sinh quan rất lạ, một thứ tu chẳng những không diệt dục mà đắm đuối chữ “Tình”… Tu vì yêu, yêu nên mới tu. Họ nói họ hiến thân cho Chúa Giêsu vì Chúa Giêsu yêu họ, vì họ yêu Chúa Giêsu. Thế nhưng kết quả là những tâm hồn thật đẹp, thật phong phú, vừa rất người, rất đời, vừa có ít nhiều cách biệt, khác hẳn con người thế tục&lt;/i&gt;». &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Ngoài môi trường Thiên Hựu, thầy Dương còn tiếp cận với các giáo xứ, gia đình công giáo và cảm thấy luôn có cái gì đắm thắm, dồi dào, tương quan thân thiết tuy thầm lặng kín đáo. «&lt;i&gt;Tuy chưa có đức tin, tôi vẫn cảm thấy một sinh khí vui tươi ấm áp. Tôi có cảm tương mình là một thân cây được cắm vào lòng đất có nhựa sống, được bao bọc và sưỡi ấm bởi tình người trong tương quan liên-ngã-vị&lt;/i&gt;». Nói thế không có nghĩa là thầy Dương xem nhười Kitô hữu hơn những người khác. Thầy nhận định: «&lt;i&gt;Về phương diện hiền hòa, phần đông các vị sư đều hơn các linh mục: về mặt nghiêm túc mực thước, các linh mục chưa chắc đã bằng các vị túc nho. Đi xa hơn, có thể nói Đức Giêsu chỉ dạy “yêu người”, chứ Đức Thích Ca còn dạy “thương bất cứ một sinh vật nào”. Nhưng điều quan trọng đối với tôi là qua môi trường công giáo, tôi cảm nghiệm được tiếp cận với “MỘT NGƯỜI” đang hiện diện và tác động “bây giờ và nơi đây”&lt;/i&gt;».&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Ngoài kinh nghiệm đó, thầy Dương cũng cảm thấy sự hiện diện của Đức Giêsu trong cộng đoàn Kitô hữu trong đời sống đạo của họ, qua những nghi thức phụng vụ, đặc biệt trong bí tích Thánh Thể là mối dây liên kết chặt chẽ các kitô hữu với nhau. «&lt;i&gt;Những lúc vào nhà thờ để cùng anh chị em giáo dân dự lễ đọc kinh, tôi như cá được thả vào nước… những giây phút qùy gối trước cung thánh, ngước nhìn nhà tạm với ngọn đèn chầu lung linh, tôi cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Giêsu sau tấm màn che thay đổi màu theo các ngày lễ trong tuần. Chúa Giêsu thật sự mà tôi cảm nghiệm là người bạn đồng hành trong cuộc sống hiện tại mà cách đó một năm tôi thấy chỉ là oan khiên nghiệp chướng&lt;/i&gt;».&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Bước ngoặt lịch sử, một cuộc tái sinh&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Năm 1945, Cách Mạng Tháng 8 đã làm đảo lộn xã hội, tạo nên một cuộc đổi đời cho người thanh niên Nguyễn Khắc Dương 20 tuổi mà gia đình vốn là “danh gia vọng tộc” của thời phong kiến, nên khi đổi đời, mọi sự như đều sụp đổ. Nhờ đó thầy nhận ra sự mỏng dòn của mọi sự trong thế gian, và không còn tin tưởng hay trông cậy gì nhiều vào những thực tại trần gian. Thầy viết: «&lt;i&gt;Cách mạng mùa thu đến như một cơn tỉnh mộng! Nhưng sâu xa hơn, cách mạng mùa thu không phải chỉ là một cuộc cách mạng xã hội làm cho địa vị của gia đình tôi đổi thay, mà còn bắt tôi phải đặt lại vấn đề nấc thang giá trị về nhân sinh: thuyết Mácxít đặt cho tôi nhiều câu hỏi về mọi mặt, đặc biệt là vấn đề nhân sinh quan trong căn bản của nó&lt;/i&gt;». Và đã nhờ kinh nghiệm của một sự “đổi đời”, mà thầy Dương ý thức được bản chất “đổi dời” của nhân thế. Thầy nhận thấy rằng những nền móng của xã hội cũ mà chủ yếu là Nho giáo (một thứ Nho giáo có phần xơ cứng) quả là không giải quyết được vấn đề chính trị xã hội của nước Việt Nam thời bấy giờ, mà cũng không giải quyết được một số vấn đề nhân sinh khác có chiều kích muôn thuở như vấn đề sự dữ (problème du Mal) chẳng hạn. Hầu như bế tắc hoàn toàn, thầy phải tìm một chân trời khác giúp thầy có thể tìm được ý nghĩa cúa Nhân sinh. Và chân trời ấy, có thể nói thầy được một ơn khải thị nội tâm huyền nhiệm mà thầy cảm nhận ra rằng đó là một Con Người “Giêsu Nadarét” mà giáo hôi công giáo tuyên xưng va loan truyền Ngài chính là CON THIÊN CHÚA nhập thể làm người đem ơn cứu độ cho nhân lọai đang đắm chìm trong đau khổ và tội ác.&lt;br /&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt; &lt;p style="color: rgb(0, 0, 153);"&gt; &lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Nguyên nhân tác động của Thiên Chúa&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Theo thầy, chính biến cố cách mạng mùa thu là biến cố mà Thiên Chúa đã dùng như một dụng cụ kêu gọi thúc đẩy thầy tìm đến CON NGƯỜI ấy như là một người cứu hộ mà còn hơn nữa như một vị Cứu Tinh. Thầy cho rằng ơn của Thiên Chúa chính là “nguyên nhân đệ nhất” hay “nguyên nhân căn bản” khiến thầy đi vào con đường này. Còn những sự kiện bên ngoài như việc học ở trường Thiên Hựu, sống trong môi trường Kitô giáo, cách mạng mùa thu, sự sụp đổ nhân sinh quan, v.v… chỉ là những “nguyên nhân đệ nhị” mà Thiên Chúa dùng «&lt;i&gt;để kéo tôi ra khỏi những đồn lũy khá kiên cố đã cầm buộc tôi, để tôi có thể đi đến với Ngài, khác nào như xưa Ngài đã phải dùng trăm phương nghìn kế để kéo dân Ngài ra khỏi Ai Cập&lt;/i&gt;. &lt;i&gt;Chỉ có con mắt đức tin mới chọc thủng lớp nguyên nhân đệ nhị ấy để thấy được nguyên nhân đệ nhất. Nếu không có con mắt đức tin, nếu không nhìn thấy Thiên Chúa, thì người ta chỉ nhìn thấy những nguyên nhân đệ nhị ấy là nguyên nhân mà thôi. Và xét theo luận lý hình thức, thì nghĩ như vậy là lôgích 100%&lt;/i&gt;». &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Tiến trình mà Thiên Chúa dùng để dẫn thầy về với Ngài, trước hết là cảm thức tôn giáo tự nhiên ở trong thầy từ hồi còn nhỏ, tuy còn lờ mờ chưa rõ rệt. Kế đó là qua thời cuộc mà thầy giác ngộ được sự vật đổi dời: «&lt;i&gt;Sự sụp đổ của một chế độ cho tôi thấy tính cách biến dịch của cuộc đời: thì ra ở đời không có cái gì trường tồn, vĩnh tại.. Ở trần gian, mọi sự đều chóng qua, đổi dời và tương đối; thế mà lòng tôi vẫn hướng về một cái gì vĩnh cửu, tuyệt đối, trường tồn&lt;/i&gt;». «&lt;i&gt;Tôi đã được ơn thấy rõ: hình như cứu cánh cuộc đời không phải ở nơi trần gian sẽ qua đi này, mà ở một nơi nào khác&lt;/i&gt;». Thầy Dương đã nhận ra cứu cánh ấy chính là Thiên Chúa, mà hiện thân của Ngài ở trần gian này là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, đã nhập thể thành một con người như chúng ta.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Trở nên Kitô hữu và ước muốn sống đời hiến dâng cho Chúa&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Từ những suy tư, cảm nghiệm và siêu nghiệm trên, thầy Dương quyết định gia nhập Kitô giáo, nhưng chỉ còn ngại cha mẹ và gia đình chống đối thôi. Nhưng may thay khi về gia đình trình với cha mẹ ý định tòng giáo, thì Cụ ông bảo: «&lt;i&gt;Thầy không vui gì lắm về việc con theo đạo. Nhưng thầy cũng không có ác cảm gì với đạo Công giáo… Nhưng nếu con tìm được hạnh phúc trong niềm tin Chúa thì thầy cũng mừng cho con&lt;/i&gt;». Thế là thầy quyết định trở thành con Thiên Chúa, và lãnh nhận bí tích Rửa tội ngày 9 tháng giêng năm 1949, tại nhà thờ Nghĩa Yên. Người ban phép Rửa tội là cha xứ Nghĩa Yên: L.m. Nguyễn Ngọc Bang, cùng dâng lễ với cha xứ Yên Nhiên, L.m. Phúc. Lm Vương Đình Ái» là cha đỡ đầu của tân tòng Têphanô Nguyễn Khắc Dương. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Trước ngày lãnh nhận bí tích rửa tội, Têphanô đã được cha Vương Đình Ái đưa đi tĩnh tâm mấy ngày tại dòng Phanxicô ở Vinh. Tại đây, khi tiếp xúc với các tu sĩ dòng và hưởng những giây phút tĩnh lặng, ấm cúng, thánh thiện và tràn đầy hạnh phúc, người tân tòng đã nẩy lên một ước muốn tha thiết: «&lt;i&gt;Nếu được cùng chung sống một cuộc đời với các tu sĩ ấy thì hạnh phúc chừng nào! Ý muốn sống đời tu sĩ đã gieo vào lòng tôi. Và từ lúc ấy, đối với tôi, đời Kitô hữu và đời hiến dâng trọn bản thân cho Chúa chỉ là một&lt;/i&gt;» «&lt;i&gt;Lòng tôi đã hướng về một cuộc sống xa hẳn mọi việc ở đời, hiến thân cho Chúa trong một đời tu hành có hướng khổ hạnh và ẩn dật chứ không thiên về hoạt động giữa đời&lt;/i&gt;». &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Và cuộc đời tu hành của thầy Dương ngay từ khi ấy đã được nội tâm hóa thành một thực tại thường hằng trong tâm khảm, kể cả những khi không còn được bao bọc trong bốn bức tường tu viện: «&lt;i&gt;Từ giây phút ấy cho đến nay, dù cuộc sống bên ngoài của tôi có phải chung lộn với cảnh đời muôn vẻ… thì bên trong tâm hồn tôi, vẫn là một &lt;b&gt;tu viện vô hình&lt;/b&gt;, nơi tôi hiến dâng bản thân cho một mình Chúa dưới sự bảo vệ đùm bọc chở che của Đức Mẹ Maria mà thôi: không rào ngăn, không lời khấn, nhưng vẫn gắn bó keo sơn, có lúc chặt, có lúc lơi, nhưng không bao giờ dứt hẳn&lt;/i&gt;».&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Xuất gia đi tu&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Kể từ ngày tĩnh tâm tại dòng Phanxicô năm ấy, 1949, ý tưởng dâng mình vào nhà Chúa càng ngày càng trở nên kiên định trong lòng và thầy chọn cuộc đời tu sĩ dòng Phanxicô, vì lúc ấy tại Vinh không có dòng nào khác, và cũng vì không muốn vào chủng viện để trở thành một linh mục triều. Thế là đầu năm 1949 người Kitô hữu tân tòng, xin phép cha mẹ cho rời gia đình để vào tu viện tại Vinh. Thế là đầu niên học 1950-1951 thầy được hội đồng nhà dòng chấp nhận vào tập viện. Lễ mặc áo dòng được tổ chức ngày 4-10 năm 1950. Để biểu lộ sự chấp thuận, ông bà cụ thân sinh đã cho một người em trai của tu sinh đến nhà dòng dự lễ. Sau khi khấn tạm tại Vinh, thầy được đưa vào tu học tại Nha Trang, nơi có viện Triết và Thần học của dòng. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Trong thời gian ở tập viện, thầy có dịp đọc cuốn “Câu chuyện một Tâm hồn” của thánh nữ Têrêxa Hài Đồng. Cuốn này và những tác phẩm của thánh Gioan Thánh Giá và thánh nữ Têrêxa Avila đã hấp dẫn thầy rất mạnh, khiến thầy nẩy sinh ý muốn đi theo con đường chiêm niệm và thần bí của dòng Cát Minh. Thầy cho biết: «&lt;i&gt;Đọc Têrêxa Hài Đồng và Gioan Thánh Giá, tôi thấy một cái gì gần gũi, phù hợp với mối khao khát tận đáy lòng tôi đang hướng về một sự thần hiệp đơn độc với sự đơn độc, trong sự im lặng thầm kín&lt;/i&gt;». Khuynh hướng tu trì mà thầy Dương ham thích là độc tu tự do kiểu ẩn sĩ. «&lt;i&gt;Hình như trong tôi có cái gì không hợp với những khuôn khổ, quy chế, lề luật, mực thước, gò bó, hệ thống, tổ chức&lt;/i&gt;».&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Tu sĩ trong quân đội&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đang theo đuổi con đường tu trì theo linh đạo Phanxicô thì thầy bị gọi nhập ngũ. Thế là tháng 4-1954, tu sĩ Nguyễn Khắc Dương vào trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức để học tập quân sự 6 tháng. Sau đó, thầy được điều động lên Ban Mê Thuột với cấp bậc thiếu úy trừ bị phụ trách tiếp vận. Vì sức khỏe yếu và cũng vì là tu sĩ, thầy không phải ra chiến đấu mà làm việc ở văn phòng, và chỉ phải thi hành nghĩa vụ quân sự trong 2 năm, sau giải ngũ lại trở về tu viện. Dù sống đời quân ngũ, thầy vẫn trung thành với những bổn phận tâm linh của người tu hành: dự thánh lễ, cầu nguyện, đọc sách đạo đức, sống đời chứng nhân của Chúa Kitô trong môi trường quân ngũ… &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Hai năm trôi qua cách bình thản, chỉ có một chuyện buồn xảy ra là thân phụ thầy bị đấu tố và kết án trong vụ cải cách ruộng đất ở miền Bắc, được ít lâu thì ông cụ từ trần vì sức khỏe rất yếu. Gia đình vì thế lâm vào cảnh cơ cực, vất vả. Với tâm hồn của một tu sĩ, thầy Dương dâng và phó thác tất cả chuyện gia đình cho Chúa, và không tỏ ra chút oán hận nào trước chén đắng gia đình phải trải qua.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;&lt;b&gt;Du học Pháp&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Tháng 7-1956, được giải ngũ để trở về tu viện tiếp tục học thần học, thì tháng 9-1956, thầy được nhà dòng gửi sang Pháp để tu học tại một học viện của tỉnh dòng Phanxicô tại Paris. Bề trên dòng cũng muốn thầy đi du học để có điều kiện tìm hiểu linh đạo các dòng khác nữa. Thầy đến Pháp ngày 4-10-1956, đúng ngày lễ thánh Phanxicô. Tại đây thầy học lại triết học, là môn mà thầy rất thích và sở trường. Nhưng kể từ khi biết Chúa là nguồn mạch sự khôn ngoan và tri thức, thầy không còn đam mê học triết như trước nữa. Niềm đam mê mới của thầy là muốn sống đời «&lt;b&gt;&lt;i&gt;thần hiệp&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;», kết hợp mật thiết với Chúa, như những vị thánh dòng Cát Minh (Gioan Thánh Giá, Têrêxa Avila và Têrêxa Hài Đồng v.v…). &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Tại Pháp, thầy có dịp tìm hiểu và sống thử đường hướng tu ở các dòng khác, nhưng cuối cùng không dòng nào thích hợp với thầy. Những dòng thích hợp với tâm hồn thì lại không thích hợp với thể chất yếu đuối của thầy. «&lt;i&gt;Đối với tôi, tất cả đều vô nghĩa, không có tác dụng gì cả! Ngay đến việc ghi danh học triết học tại Paris (cái giấc mộng lớn nhất của tôi năm tôi học triết trường Khải Định) nay ở trong tầm tay, tôi cũng không màng. Giữa thành phố Paris với những lâu đài tráng lệ, với bao cơ sở văn hóa lừng danh, tôi chỉ thấy: “toàn là phù du và phù du”, “Vanitas vanitatis vanitatum”. Quyết định đầu tiên của tôi là trở về Việt Nam ngay tức khắc&lt;/i&gt;». Nhưng cuối cùng thầy đành nghe lời khuyên của linh mục Nguyễn Bình An, cùng dòng Phanxicô: ở lại Paris mấy năm để lấy cho xong bằng cử nhân triết học tại đại học Sorbonne hầu có thể giúp ích cho bản thân và đất nước, sau đó sẽ trở về Việt Nam. «&lt;i&gt;Tôi hình dung trở về Việt Nam sẽ xin ở lại dòng Phanxicô với tư cách là cư sĩ (oblat) hoặc ở giúp tại nhà xứ của một linh mục thuộc địa phận Vinh nào đó; miễn sao được ở dưới cùng một mái nhà với Mình Máu Thánh Chúa là lý tưởng, còn thì làm gì cũng được. Đối với tôi, đời sống âm thầm cầu nguyện lặng lẽ như Têrêxa Hài Đồng vốn là niềm ước mơ trọn vẹn nhất&lt;/i&gt;».&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Nhưng thầy Dương lại có khuynh hướng dị ứng với lề luật. Vào những dòng mà thầy thấy hợp, thầy lại không đủ sức khỏe để sống ở đấy. Cuối cùng sau 15 năm sống đời tu trì, thầy nhận ra Chúa&lt;b&gt; muốn thầy sống giữa đời &lt;/b&gt;với tư cách một cư sĩ làm chứng cho tình yêu của Chúa và hiến thân trọn vẹn choi Ngài mà &lt;b&gt;không mang danh hiệu tu sĩ dòng này hay dòng kia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;&lt;b&gt;Ẩ&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;n sĩ giữa đời&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Về miền Nam Việt Nam cuối năm 1965, thầy nhận dạy triết học chương trình Pháp tại trường các nữ tu dòng Phaolô ở Sàigòn. Đầu năm 1966, thầy được linh mục Nguyễn Văn Lập, Viện trưởng Đại Học Đà-Lạt, mời dạy Triết. Là giáo sư đại học, nhưng thầy xác định «&lt;i&gt;Đại học Đà-Lạt gần như chỉ là chỗ tôi tạm dung thân chứ lòng tôi chẳng hề dính bén về mặt danh lợi và tình. Cuộc sống của tôi có chăng như là một ký túc viên cao cấp: chẳng sắm sửa gì, chẳng có ý định gây dựng gì cả. Ai giao việc gì thì làm việc nấy, lương bổng đưa bao nhiêu thì nhận bấy nhiêu, tiêu bấy nhiêu. Ai cần thì cho mượn, có thì trả, không cũng chẳng đòi (nhất là một số sinh viên nghèo), chẳng dành dụm gì cả. Có khi còn phải vay mượn thêm để cho những ai cần, túng tìm đến. Tôi cũng không chủ trương giúp đỡ ai lâu dài, vì không muốn ràng buộc ơn nghĩa với ai&lt;/i&gt;». &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Cung cách làm giáo sư đại học của thầy rất đặc biệt. «&lt;i&gt;Giữa hàng ngũ sinh viên, tôi như một người anh cả hơn là một vị giáo sư, do đó tương quan rất gần gũi, thân mật, rất đậm tình người. Sinh viên vào phòng tôi trọ đêm, hay ngược lại tôi ngủ tại phòng trọ của họ là thường. Ngoài giờ học, thầy trò quây quần quanh quán phở, cà phê cũng là thường, không tổ chức thường xuyên, nhưng tôi cố gắng thực hiện cái cung cách của con người cùng với anh em trẻ đi tìm Chân Lý, như tôi học được nơi các thầy ở Sorbonne, chứ giáo trình của tôi thì cũng xoàng thôi. Tôi quan niệm rằng: không ai dạy triết cho ai, không có ai học triết với ai được cả! Chỉ là kẻ trước người sau trên đường đi tìm triết lý cho mình, do mình&lt;/i&gt;». &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Sau đó thầy được cử làm Trưởng Ban Triết học và Quyền Khoa Trưởng Khoa Văn. Dầu vậy, thầy vẫn luôn «&lt;i&gt;có tâm tư của kẻ lữ hành giữa những kẻ cùng lữ hành, như chưa tìm đâu là chỗ ở, việc làm của mình cả, và cứ như kẻ nghĩ rằng ngày nào đó mình lại nhổ lều đi cắm nơi khác&lt;/i&gt;». &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đời sống đạm bạc và phóng khoáng như vậy, nhưng thầy cảm thấy chẳng có gì đáng để tự hào. «&lt;i&gt;Tôi không ham danh lợi chẳng qua vì bản tính &lt;b&gt;tự nhiên&lt;/b&gt; không ham cái ấy, có lẽ rằng nếu không biết Chúa, tự nhiên tôi cũng thế mà thôi. Hơn nữa, tình hình bất ổn của xã hội càng làm tôi không dính bén, vì biết đó chẳng ra gì và cũng chẳng vững chắc gì: kinh nghiệm về danh lợi của thân phụ tôi đã làm tôi sáng mắt theo sự khôn ngoan triết lý tự nhiên, chứ chẳng phải theo tinh thần nghèo khó của Tin Mừng đâu! không phải là thật sự yêu người theo đúng nghĩa Tin Mừng đâu! chẳng có gì là hy sinh vì Chúa, vì anh em cả!…&lt;/i&gt;». «&lt;i&gt;Thế nhưng, đây là sự kỳ diệu của Thiên Chúa. Chúa che mắt không cho ai thấy được sự thực như vậy cả! Cho nên đối với một số anh chị em, đời sống của tôi đã có tác động xây dựng, có thể như là gương sáng!!! Tạ ơn Chúa, nếu có anh chị em nào nhờ vậy mà thêm phần được ảnh hưởng tốt, thì hoàn toàn là việc Chúa làm, Chúa dùng cái &lt;b&gt;bề ngoài &lt;/b&gt;của tôi mà giúp đỡ họ, chứ giá trị bên trong của tôi thì hoàn toàn chẳng có gì! Thế mà ôi khốn nạn cho tôi! Mặc dầu ý thức như vậy, đôi lúc tôi cũng đã để cho cái tự phụ rởm len lỏi vào tâm hồn, tự cho mình là tốt. Thỉnh thoảng lầm tưởng là mình có tinh thần nghèo khó, có lòng yêu người!!! Nghĩ lại mà xấu hổ!&lt;/i&gt;» Phải chăng thầy là một tâm hồn khiêm nhường đích thật!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Cuộc Rửa tội lần thứ hai&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Thầy Dương đang làm giáo sư tại Đại học Đà-Lạt thì biến cố 1975 xảy đến. Đà-Lạt tiếp thu vào ngày 30-3-1975 trước Sàigòn đúng hai tháng. Thầy là giáo sư duy nhất (cùng với một phụ khảo có gia đình tại Đà-Lạt) ở lại, không di tản. Thầy được Đức Giám Mục Đà-Lạt chỉ định ở lại Viện đại học như thành phần của ban giám hiệu, bảo quản cơ sở vật chất... Chưa đầy một tháng sau, ngày 24-4-1975, thầy bị chính quyền bắt đi tập trung cải tạo 16 tháng tại trại Sông Mao (Bình Thuận) vì đã là cựu sĩ quan chế độ cũ… Thời gian 16 tháng này thầy cho là một hồng ân lớn lao mà Thiên Chúa dành cho mình..&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Khám phá ra những ảo tưởng về mình&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; «&lt;i&gt;Bài học quý giá nhất là: trong trại cải tạo, chân tướng của bản thân tôi được lột trần ra nhờ sự việc dồn tôi vào một cái thế không thể nào che đậy được chân tướng ấy dưới bất cứ cái vỏ giả hiệu nào. Bao nhiêu ảo tưởng về chính mình nhờ vậy mà được dẹp sạch&lt;/i&gt;». Một hôm, một người bạn cùng cảnh tù tội với thầy bị sốt rất nặng. Thầy có mấy viên thuốc tifomycine cuối cùng để phòng bệnh. Thầy muốn cho, nhưng lại sợ đến khi mình cần thì không có. Thế là đêm hôm ấy, thầy phải phấn đấu, vật lộn với tính ích kỷ suốt cả đêm trường mới có thể đi đến quyết định nhường những viên thuốc cho người bạn khốn khổ ấy. Nhờ thử thách đó mà thầy nhận ra mình chưa thương người đúng như Chúa muốn, như thầy vẫn tưởng. Thầy viết: «&lt;i&gt;Tôi rời trại học tập với bài học quý giá vô cùng là: mình chỉ là một đứa tồi, rất tồi, nếu không có Chúa nâng đỡ ban ơn thêm sức cho thì cái khả năng “bán Chúa” như Giuđa không phải là không có cơ xảy ra!&lt;/i&gt;» &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Trong trại học tập, thầy nhận ra được con người thật của mình để nhờ đó cậy trông vào Chúa hơn, chứ không tự hào về chính mình. «&lt;i&gt;Có thể nói năm 75-76 là thời gian tôi được ơn Rửa tội lần thứ hai&lt;/i&gt;». &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Trong thời gian cải tạo, thầy có nhiều thì giờ để hồi tâm suy nghĩ về toàn bộ quãng đời đã qua, đặc biệt là chặng đời làm Kitô hữu và ơn gọi tu trì của mình. Thầy đã tự quyết định bỏ dòng Phanxicô, và một vài dòng đã thử sống. Bây giờ thầy tự hỏi: «&lt;i&gt;Tôi đã đánh mất ơn gọi, hay tôi đã rõ ràng là không có ơn gọi tu trì mà vẫn ngoan cố đeo đuổi? Nhưng biết đâu Chúa gọi tôi theo một kiểu tu trì mới mà tôi phải dày công tìm kiếm!?&lt;/i&gt;»&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Phải chăng thầy Nguyễn Khắc Dương đã khám phá ra một kiểu tu cho riêng mình mà hiện nay thầy đang theo đuổi: một kiểu tu không hình thức, không mang danh tính, không ai biết mình tu, «&lt;i&gt;một kiểu “ẩn tu” ở giữa đời, “ẩn tu” trong chính lòng mình&lt;/i&gt;». &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đôi khi thầy cảm thấy hối hận vì đã không tận dụng ơn Chúa: «&lt;i&gt;Năm 75 tôi như đứa con hoang đàng về nhà cha sau khi phung phá bao nhiêu của cải mà Chúa đã đặt vào tay tôi: vật chất có, trí tuệ có, thiêng liêng có, rồi trở về với hai bàn tay không theo nghĩa đen cũng như nghĩa bóng!&lt;/i&gt;»&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Thầy cảm thấy trong việc sống đạo hay tu trì của thầy có những lợn cợn của ích kỷ: «&lt;i&gt;Trong hai câu “Ai mệt nhọc hãy đến cùng Ta”, và “Ai theo Ta hãy vác thập giá mà theo Ta”, hình như tôi chỉ thật sự nghe câu thứ nhất, còn câu thứ hai chẳng khác nào lý thuyết xuông thôi! Quả vậy, tôi chỉ chạy đến với Chúa để tìm an ủi (dù là an ủi thiêng liêng thì cũng chỉ là quan niệm ủi cho mình), chứ tôi chưa hề tự nguyện nhỏ một giọt mồ hôi nào vì danh Chúa cả… Nói tóm lại, suốt 20 năm tôi vẫn tìm chính mình tôi dưới dạng này hay dạng khác, dù là đang tìm một con đường tu trì, chứ không phải là thật sự tinh tuyền tìm Chúa&lt;/i&gt;». «Cái tôi của mỗi người mỗi khác, nhưng giống nhau. Về việc đi tu,«Tôi đã đi tìm đời tu theo tinh thần «hiền triết», «đạo gia» ngoại giáo, tìm giải thoát khỏi mọi vấn vương hệ lụy «cho mình», chứ không có gì là hy sinh cho Giáo hội và tha nhân.. Ngày nay, càng suy gẫm tôi càng cảm nghĩ rằng cuối cùng Thiên Chúa đã xót thương từng bước giúp tôi thức tỉnh, thoát khỏi cơn mộng du tu trì kiểu «ngộ đạo» (agnosticisme) để nhận ra cái chân tướng phàm nhân củ mình»Thầy Dương tự xét rằng đã ôm ảo tưởng quá nhiều trong đời tu: «&lt;i&gt;Tôi rơi vào chỗ hợm mình, tự đặt cho mình như có cái gì đặc biệt, khác người và hơn người!) Tôi nghĩ rằng mình… sẽ được Chúa đưa đi theo một con đường nên thánh đặc biệt. Vì thế, thay vì tuân giữ những gì chung cho tất cả nhà tập và học viện, tôi đã tự ý tò mò tìm đọc riêng rất nhiều sách dẫn đàng thiêng liêng, trong lúc trình độ thiêng liêng còn quá non nớt… Tôi đã ngấu nghiến đọc &lt;/i&gt;(thầy kể ra đây một lô tác giả tu đức)&lt;i&gt; Tôi đã bội thực về mặt này. Tôi đã có những ước mơ thần hiệp quá sớm, quá vội, vượt quá sức mình, chạy theo những điều mình đã tự ngấu nghiến, không có người hướng dẫn. Có thể nói nơi tôi đã xảy ra hiện tượng gần như là “tẩu hỏa nhập ma”!&lt;/i&gt;»&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Với biến cố 1975, thầy xem mình như rơi xuống đáy vực sâu, và cho rằng đó chính là thuốc Chúa dùng để cứu chữa mà «&lt;i&gt;thuốc chữa là một sự khiêm nhường thật sự thâm sâu trong lòng. Và thuốc chữa ấy thường chỉ có Chúa mới đem lại được cho kẻ mắc phải bằng cách cho vấp ngã nặng nề, rơi vào tận đáy vực sâu để biết thân biết phận… Ơn ấy Chúa đã ban cho tôi với những sự cố xảy ra trong hai năm 75 và 76. Cho nên tôi gọi đó là “sự trở lại thứ hai” của tôi. Năm 75 cùng với năm 49 là hai năm “Đại hồng phúc” của đời tôi&lt;/i&gt;».&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Thời gian đó, biết bao vấn đề thầy đã xét lại, để biết mình nhiều hơn, để tìm ra những gì còn khiếm khuyết, sai lầm trong cuộc đời quá khứ của mình. Nhờ đó, với cố gắng mỗi ngày cải thiện đời sống, thầy hy vọng sống một cuộc đời bình dị và thiết thực hơn; cuộc đời một tín hữu Đức Kitô giữa muôn vàn anh chị em tín hữu Đức Kitô. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;Giờ đây năm 2005, thầy được đúng 80 tuổi, đang sống như một cư sĩ giữa đời, vẫn một mình một bóng, đời sống vật chất cũng như tinh thần đều hoàn toàn phó thác vào bàn tay quan phòng yêu thương của Thiên Chúa mà thầy đã cảm nghiệm được Tình yêu và lòng xót thương vô hạn trong Đức Giêsu Kitô.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;TẠM KẾT&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Để tóm lược tinh thần siêu thoát của cư sĩ Nguyễn Khắc Dương, tôi xin kết thúc với bài thơ do chính thầy dệt vần nói lên “SỞ NGUYỆN” của thầy, mong ước mình chỉ là một hành giả như người phận hèn đơn bạc “sống vô gia cư thác vô địa táng” để trở nên những mảnh bụi lót chân cho khách qua đường trên trần thế: &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;b&gt;SỞ NGUYỆN&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;Hành giả dừng chân tạm vỉa hè, &lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt; Tấm thân đất chở với trời che. &lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt; Cảm người bươn chải vòng cơm áo, &lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt; Thương kẻ bôn ba nhịp ngựa xe. &lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt; Trần sắc mười phương đau đớn thấy, &lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt; Thế âm bốn cõi xót xa nghe. &lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt; Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể, &lt;/div&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;Nguyện lót êm chân khách vỉa hè.&lt;/div&gt;&lt;div&gt; &lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;b&gt; (Nguyễn Khắc Dương)&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-5981807434127955734?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/5981807434127955734'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/5981807434127955734'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/09/antugiuadoigsnguyenkhacduong.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-5566926886537104600</id><published>2009-09-04T21:06:00.000-07:00</published><updated>2009-09-04T21:09:24.456-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;Nên thánh là ơn gọi&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;hay chỉ là một lời mời gọi?&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;Quả là sau khi có người đặt vấn đề về sự phân biệt giữa ơn gọi (vocation) và lời mời gọi (call) thì tôi mới bắt đầu để ý phân biệt hai hạn từ này và suy nghĩ xem hai hạn từ này khác nhau ra sao.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Sau khi suy nghĩ và phân tích, tôi nhận thấy thế này:&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Nên thánh &lt;i&gt;trước hết &lt;/i&gt;là một lời mời gọi hay tiếng gọi của Thiên Chúa. Nhưng nếu không có ơn Chúa thì lời mời gọi này không thể thực hiện được. Vì thế, ai mà nên thánh được thì quả là một &lt;b&gt;&lt;i&gt;ơn &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;vĩ đại, vĩ đại hơn là ơn làm được một linh mục hay tu sĩ. Vì nên thánh thì khó chứ làm linh mục, tu sĩhay giáo dân thì tương đối dễ thôi! Chỉ cần nghĩ như thế thì tôi đã thấy nên thánh là một «&lt;i&gt;ơn gọi&lt;/i&gt;” nhiều hơn là một «&lt;i&gt;tiếng gọi&lt;/i&gt;” rồi! Thậm chí dùng từ «&lt;i&gt;ơn gọi nên thánh&lt;/i&gt;” thì còn phù hợp hơn là «&lt;i&gt;ơn gọi linh mục&lt;/i&gt;”, «&lt;i&gt;ơn gọi tu sĩ &lt;/i&gt;“ hay «&lt;i&gt;ơn gọi giáo dân&lt;/i&gt;”, vì nên thánh &lt;i&gt;cần nhiều ơn&lt;/i&gt; hơn.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Phân tích sâu hơn tôi thấy: Ơn gọi (vocation) hàm chứa ba yếu tố: lời mời (call) gọi của Chúa, đáp trả (response) lời mời gọi ấy của con người, và thành quả của việc mời gọi ấy. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Xin lấy một thí dụ cụ thể: ai cũng nhìn nhận linh mục là một ơn gọi. Ơn gọi ấy gồm ba yếu tố:&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 1. &lt;b&gt;&lt;i&gt;Lời mời gọi của Chúa&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;: Chúa mời gọi một số người – không phải tất cả – làm tông đồ của Chúa theo con đường linh mục.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 2. &lt;b&gt;&lt;i&gt;Sự đáp trả của người cảm nhận được lời mời đó&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;: bằng việc hiến thân vào chủng viện hay tu viện và trung thành với lời mời gọi đó đến cùng. Tôi nghĩ về phía con người thì đây là điều cốt yếu nhất của ơn gọi.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 3. Và &lt;b&gt;&lt;i&gt;thành quả của việc đáp trả đó&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; là người ấy đã trở thành một linh mục thật sự (không nói tới trường hợp những người tiến tới chức linh mục vì lý do trần tục: họ chỉ đáp lại lời mời gọi của tham vọng cá nhân chứ không phải đáp lại lời mời gọi của Chúa. Những người này có vẻ có ơn gọi linh mục, nhưng thật sự là không). Thành quả này tùy thuộc vào Chúa hơn vào bản thân ta.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;i&gt;Trên nguyên tắc&lt;/i&gt;, người ta chỉ biết mình có ơn gọi linh mục hay không khi đã thành tựu ơn gọi đó là trở nên một linh mục. Đối với một chủng sinh – chưa thành linh mục – có thể nói người đó đang theo đuổi ơn gọi linh mục. Ơn gọi linh mục của người này vẫn còn ở phía trước. Nhưng theo cách nói thông thường của rất nhiều Kitô hữu, thậm chí rất cao cấp trong Giáo Hội, thì khi một chủng sinh xuất tu ra ngoài lập gia đình, người ta bảo chủng sinh đó «&lt;i&gt;đánh mất ơn gọi&lt;/i&gt;” (ở đây là ơn gọi linh mục). Trong trường hợp này, người ta hiểu ơn gọi chỉ cần hai yếu tố: lời mời gọi của Chúa, và sự đáp trả của con người. Ngay như đối với một người đã làm linh mục (coi như đã có yếu tố thứ 3), việc sống cho ra một linh mục cũng là một điều không phải linh mục nào cũng làm được. Khá nhiều linh mục không sống đúng với lý tưởng linh mục của mình, có những vị sống tinh thần tông đồ – tinh thần cốt lõi của ơn gọi linh mục – còn tệ hơn giáo dân. Những linh mục loại này thì không thể nói họ có ơn gọi linh mục (vocation to priesthood).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Vậy, nên thánh là ơn gọi hay chỉ là lời mời gọi? Ta hãy xét 3 yếu tố làm thành ơn gọi:&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 1. Điều chắc chắn là Thiên Chúa có &lt;b&gt;&lt;i&gt;mời gọi&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; &lt;i&gt;tất cả &lt;/i&gt;mọi Kitô hữu nên thánh. Đó là lời mời gọi về phần Thiên Chúa.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 2. Vấn đề còn lại là sự &lt;b&gt;&lt;i&gt;đáp trả &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;của con người: chẳng hạn tôi đáp trả lại lời mời gọi ấy và quyết tâm nên thánh trong cuộc đời của tôi.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 3. Về việc thành tựu lý tưởng nên thánh, thì &lt;i&gt;trên nguyên tắc&lt;/i&gt;, khi được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa và được làm con Thiên Chúa qua bí tích rửa tội, thì tôi đã là thánh theo bản chất rồi. Tuy nhiên, trong đời sống thực tế, sau khi đáp trả lời mời nên thánh bằng sự quyết tâm nên thánh, thì có thể tôi sống được một cuộc sống thánh thiện tương đối đúng theo lời mời gọi của Thiên Chúa, mà cũng có thể tôi chưa sống cho ra thánh. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Như vậy việc nên thánh vẫn có thể coi như một &lt;b&gt;&lt;i&gt;ơn gọi &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;đối với những ai đáp lại lời mời gọi nên thánh của Chúa. Cũng như việc làm linh mục là ơn gọi đối với những ai đáp lại lời mời gọi làm tông đồ của Chúa. Đối với người không đáp lại lời mời gọi của Chúa, thì lời mời gọi đó vẫn chỉ là lời mời gọi, chưa phải là ơn gọi, vì chưa nhận được &lt;b&gt;&lt;i&gt;ơn &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;Chúa để đáp trả.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Hiểu theo cách phân tích như trên, thì người Kitô hữu có một ơn gọi chung là ơn gọi Kitô hữu. Ơn gọi này có ba yếu tố: &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 1. Lời mời gọi của Thiên Chúa (Ngài kêu gọi ta trở nên Kitô hữu là trở nên con cái Ngài, để nên thánh hay sống theo tinh thần Chúa Kitô). &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 2. Lời đáp trả của ta.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 3. Việc cụ thể để đáp trả là &lt;i&gt;lãnh nhận bí tích rửa tội&lt;/i&gt; và từ đó &lt;i&gt;sống tinh thần của Chúa &lt;/i&gt;(trong những trường hợp chưa thể lãnh bí tích này được, thì ta có thể đáp trả lời mời gọi bằng cách chứng tỏ mình là Kitô hữu qua chính đời sống hay cái chết của mình. Đó là rửa tội bằng lửa hoặc bằng máu). Nếu dựa theo tinh thần của đoạn Kinh Thánh Rm 2,25-39, thì yếu tố sau (thật sự sống tinh thần của Chúa) khiến mình là Kitô hữu hơn là yếu tố trước (chỉ lãnh nhận bí tích rửa tội).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Về mặt từ ngữ của chữ «&lt;i&gt;ơn gọi&lt;/i&gt;” thì tiếng Anh (hay nhiều ngôn ngữ Âu châu) là &lt;i&gt;vocation&lt;/i&gt;. Vocation có gốc tiếng latinh là &lt;i&gt;vocatio&lt;/i&gt; với nguyên nghĩa là tiếng gọi (a call, an appeal), bởi động từ &lt;i&gt;vocare &lt;/i&gt;nghĩa là gọi (to call, to appeal). Giáo Hội dùng chữ &lt;i&gt;vocation &lt;/i&gt;với nguyên nghĩa như thế để chỉ một thực tại khác sâu xa hơn trong lãnh vực tâm linh. Vì thế, chữ vocation có thể dịch sang tiếng Việt bằng hai từ là «&lt;i&gt;ơn gọi&lt;/i&gt;” và «&lt;i&gt;tiếng gọi&lt;/i&gt;” với hai nghĩa khác nhau. Vocation đều dùng cho «&lt;i&gt;ơn gọi&lt;/i&gt;” linh mục và «&lt;i&gt;ơn gọi&lt;/i&gt;” Kitô hữu. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Sự khác biệt giữa ơn gọi linh mục (vocation to priesthood hay vocation sacerdotale) và ơn gọi Kitô hữu (vocation of a Christian hay vocation du Chrétien) là ở chỗ này: &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Ơn gọi linh mục hay tu sĩ là một ơn gọi đặc biệt và bổ túc (particular and complementary), trong khi đó ơn gọi Kitô hữu hay nên thánh là một ơn gọi căn bản, qua phép rửa và chung cho mọi Kitô hữu (fundamental, baptismal and common). Nói cách khác: ơn gọi linh mục là &lt;i&gt;một ơn gọi trong ơn gọi&lt;/i&gt;, hay ơn gọi dành cho một số Kitô hữu (cũng «&lt;i&gt;độc đáo&lt;/i&gt;” như ơn gọi hôn nhân)... &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Nhưng trong lịch sử, phải chăng người ta quá nâng cao ơn gọi linh mục đến độ chữ «&lt;i&gt;ơn gọi&lt;/i&gt;” (vocation) không còn được dùng khi nói đến ơn gọi Kitô hữu nữa? Và công đồng Vatican II đã kịp thời sửa chữa sự sai trái này. Nhưng nhiều Kitô hữu chưa theo kịp tư tưởng của công đồng.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Theo Đức Gioan-Phaolô II trong bài giảng của ngài tại Aéroclub d'Osijek/Cepin (Croatie) ngày 7-6-2003, thì «&lt;i&gt;the vocation of Christian is holiness&lt;/i&gt;” (= ơn gọi của Kitô hữu là nên thánh). Như vậy nói cho đúng hơn thì &lt;i&gt;nên thánh&lt;/i&gt; là &lt;i&gt;bản chất hay cốt tủy&lt;/i&gt; của &lt;i&gt;ơn gọi Kitô hữu&lt;/i&gt;. Vì thế, khi nói «&lt;i&gt;ơn gọi nên thánh&lt;/i&gt;”, người ta dùng bản chất của một ơn gọi để gọi chính ơn gọi đó. Đó cũng là một cách khá thông dụng trong ngôn ngữ vốn rất uyển chuyển và đầy tính sáng tạo. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đúng ra, để nói cho chính xác (kiểu triết học và toán học, chứ không phải kiểu uyển chuyển trong ngôn ngữ bình thường), thì trong bài chia sẻ Tin Mừng của tôi ngày Lễ Các Thánh, tôi nên nói: «&lt;i&gt;lời mời gọi nên thánh&lt;/i&gt;”&lt;i&gt; &lt;/i&gt;và «&lt;i&gt;lời mời gọi làm linh mục hay tu sĩ&lt;/i&gt;” hơn là từ «&lt;i&gt;ơn gọi nên thánh&lt;/i&gt;” «&lt;i&gt;ơn gọi linh mục&lt;/i&gt;”, v.v… thì sẽ đỡ rắc rối hơn&lt;i&gt;.&lt;/i&gt; Vì khi con người chưa đáp lại tiếng Chúa, còn đang trong tình trạng phải lựa chọn có nên đáp lại những lời mời gọi đó hay không, thì chưa nên dùng từ ngữ «&lt;i&gt;ơn gọi&lt;/i&gt;”. Do đó, nếu tôi nói: «&lt;i&gt;Lời mời gọi cao cả nhất cho mọi người là nên thánh&lt;/i&gt;” thì sẽ dễ thỏa mãn những người đòi hỏi ngôn ngữ chính xác hơn. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Tuy nhiên trong ngôn ngữ thì người ta áp dụng một cách du di miễn sao chuyển đạt được hoàn toàn ý mình muốn nói thôi. Khi viết bài chia sẻ (lễ Các Thánh) này, tôi phải dùng ngôn ngữ để chuyển tải, và có thể do sơ ý, hay do tôi chưa nghĩ sâu xa, tôi đã dùng ngôn ngữ chưa chính xác, mặc dù vẫn có thể được. Nhưng tôi nghĩ là người đọc có thể nắm hết ý của tôi, và như thế là tôi đạt mục đích rồi. Vả lại, khi viết bài chia sẻ (chứ không phải luận án), thì tôi giả thiết rằng người đọc là người muốn tìm hiểu ý của Thiên Chúa để sống, để áp dụng vào thực tế hầu nên thánh, hơn là để hiểu biết, để làm bài, làm luận án... Nên tôi cũng không quan tâm đến sự phân biệt tế nhị phải có mà một ngôn ngữ chính xác đòi hỏi.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Còn một vấn đề nữa là khi tôi nhấn mạnh đến việc nên thánh quan trọng hay cao cả nhất của con người, thì tôi không hề có ý nói là như vậy thì ơn gọi linh mục hay tu sĩlà không cần thiết nữa. Ai hiểu như thế thì quả thật khá nhạy cảm… Cũng tương tự như khi tôi nói điều quan trọng nhất về mặt thể chất là sống khỏe mạnh, thì tôi không có ý nói là bác sĩ không cần nữa. Trái lại, càng đề cao sức khỏe bao nhiêu thì mặc nhiên tôi càng đề cao vai trò của bác sĩ bấy nhiêu, vì bác sĩ rất cần thiết cho sức khỏe. Có ai trong cuộc đời muốn khỏe mạnh mà không cần đến bác sĩ đâu? Có điều là nếu tôi làm bác sĩ thì tôi sẽ ước mong mọi người đều được khỏe mạnh để họ chẳng cần đến tôi nữa. Nếu là bác sĩ mà chỉ mong người ta cần đến mình (nghĩa là mong cho người ta bệnh tật nhiều) thì bác sĩ ấy đã nghĩ đến túi tiền của mình trước khi nghĩ đến sức khỏe của con người.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Nguyễn Chính Kết &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-5566926886537104600?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/5566926886537104600'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/5566926886537104600'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/09/nenthanhlaongoihayloimoigoi.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-2928819295336113964</id><published>2009-09-04T20:57:00.000-07:00</published><updated>2009-09-04T21:03:41.866-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;Đức Gioan-Phaolô II,&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;vị giáo hoàng của đại kết&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;div style="text-align: right; color: rgb(0, 0, 153);"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;Nguyễn Chính Kết &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;Những gì Đức Gioan-Phaolô II đã làm cho Giáo Hội Công giáo và quê hương Ba Lan của ngài, thì rất nổi bật, và đã có rất nhiều người nói và viết đến. Riêng tôi, tôi thường nghĩ đến những gì ngài đã làm cho cả thế giới, cả nhân loại. Đối với tôi, một vị giáo hoàng vĩ đại không chỉ là người của Giáo Hội mà còn phải là người của cả thế giới, cả nhân loại, đặc biệt phải là người của chân lý, công lý và tình thương phổ quát. Vì thế, khi nói đến sự vĩ đại của Đức Gioan-Phaolô II, tôi nghĩ ngay đến những gì ngài đã làm cho cả thế giới, đã phục vụ cho cả nhân loại, chứ không chỉ cho riêng Giáo Hội Công giáo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Đức Gioan-Phaolô II, vị giáo hoàng của đại kết&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Một trong những khía cạnh mang tính phổ quát ấy của ngài là nỗ lực tạo đoàn kết, thúc đẩy tinh thần cộng tác, yêu thương giữa các tôn giáo, các quốc gia trên thế giới. Trong khuôn khổ hạn hẹp của bài này, tôi chỉ nói tới tinh thần đại kết của Ngài. Ngài xứng đáng được gọi là vị giáo hoàng của đại kết, vì một trong những mối quan tâm rất lớn trong cuộc đời giáo hoàng của Ngài là làm sao hiệp nhất các giáo phái Kitô hữu lại. Không chỉ hiệp nhất các giáo phái Kitô hữu, ngài còn muốn liên kết với các tôn giáo khác trên thế giới để cùng xây dựng một thế giới công bằng, yêu thương, để từ đó nhân loại được hòa bình, hạnh phúc. Hòa bình của thế giới chỉ có thể thực hiện được trên nền tảng công bằng, yêu thương và đoàn kết, không chỉ giữa các cá nhân, mà giữa các đoàn thể, các tôn giáo và các quốc gia. Nền tảng này đã có sẵn trong giáo thuyết Kitô giáo, và điều quan trọng là phải phổ biến và đem ra áp dụng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Các giáo phái Kitô hữu phải yêu thương đoàn kết với nhau&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Kitô giáo là tôn giáo của yêu thương, vì Đức Giêsu, Đấng sáng lập Kitô giáo, chỉ đưa ra một giới răn duy nhất là yêu thương nhau: «&lt;i&gt;Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em&lt;/i&gt;» (Ga 15,12; x.13,34; 15,17). Chính Ngài đã sống trọn vẹn và là mẫu gương hoàn hảo của tinh thần yêu thương ấy suốt cuộc đời Ngài. Theo thánh Phaolô, toàn bộ lề luật của Đức Giêsu chỉ là yêu thương nhau: «&lt;i&gt;Tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình&lt;/i&gt;» (Gl 5,14), đến nỗi «&lt;i&gt;ai yêu người thì đã chu toàn Lề Luật&lt;/i&gt;» của Ngài rồi (Rm 13,8.10). &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đức Giêsu muốn việc yêu thương nhau ấy phải được coi là đặc trưng hay bản chất của tất cả những ai theo Ngài, những ai làm môn đệ Ngài: «&lt;i&gt;Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này là anh em có lòng yêu thương nhau&lt;/i&gt;» (Ga 13,35). Điều đó có nghĩa: những ai đã là môn đệ Ngài thì tất nhiên họ yêu thương nhau; cũng có thể nói cách quảng diễn: hễ ai yêu thương nhau chân thực thì họ chính là môn đệ Ngài, và những ai không yêu thương nhau thì họ không phải là môn đệ Ngài cho dù họ có chính thức mang danh là môn đệ Ngài đi chăng nữa. Môn đệ Ngài từ trong bản chất, từ trong đáy lòng mới là môn đệ đích thực, chứ chỉ là môn đệ trên danh nghĩa thì không phải là môn đệ đích thực của Ngài (x. Rm 2,28-29).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Không chỉ Kitô giáo mà các tôn giáo khác cũng đều dạy con người phải yêu thương nhau. Có biết bao cá nhân Kitô hữu đã thực hiện được bản chất cốt yếu nhất của người môn đệ Ngài. Và cũng có những đoàn thể Kitô hữu đã yêu thương và hy sinh hỗ trợ cho những đoàn thể khác với tư cách tập thể. Các cá nhân yêu thương nhau tuy khó nhưng còn khá dễ, các tập thể yêu thương nhau thì khó hơn. Nhưng các tôn giáo, các quốc gia mà yêu thương nhau, đoàn kết, cộng tác và hy sinh cho nhau thì khó hơn rất nhiều.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Các tôn giáo phải làm gương cho thế giới về tinh thần yêu thương nhau&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Tôn giáo nào cũng dạy tín đồ mình yêu thương nhau, nhưng thực tế cho thấy chính các tôn giáo lại không yêu thương nhau bao nhiêu, không đoàn kết với nhau cho lắm. Các tôn giáo, ngay cả các giáo phái trong cùng một tôn giáo, đã từng nói xấu nhau, hận thù nhau, tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau, thậm chí chiến tranh với nhau. Và những cuộc chiến tranh tôn giáo cũng đẫm máu, cũng tàn ác, bỉ ổi, dã man không kém bất kỳ một cuộc chiến tranh nào. Tín đồ của bên nào chết trong trận chiến cũng được tôn phong là tử đạo!? &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Các tôn giáo – là những tập thể dạy các tín đồ yêu thương đoàn kết với nhau – mà không yêu thương đoàn kết với nhau được, không là gương mẫu về chuyện này, thì các quốc gia, các dân tộc làm sao yêu thương nhau được? Các tôn giáo có yêu thương và đoàn kết với nhau được thì mới hy vọng các quốc gia, các dân tộc yêu thương nhau, một điều kiện để có hòa bình đích thực. Các tôn giáo cứ dạy các dân tộc, các quốc gia yêu thương đoàn kết, mà chính mình không làm được điều đó, thì như vậy mình đã chứng tỏ điều mình dạy là không thực tế! Và mình cũng chỉ là những kẻ «&lt;i&gt;nói mà không làm&lt;/i&gt;» (Mt 23,3) y hệt những người Pharisêu ngày xưa!&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Chiếu theo câu «&lt;i&gt;Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau&lt;/i&gt;» (Ga 13,35), thì việc các giáo phái cùng nhận mình là môn đệ Chúa Giêsu mà nói xấu nhau, thù hằn nhau, chiến tranh với nhau, chỉ chứng tỏ một điều là các giáo phái ấy – với tư cách tập thể – chưa phải là những môn đệ đích thực của Ngài. Giáo phái nào cũng hãnh diện xưng mình là môn đệ Ngài mà vẫn không coi các giáo phái cùng xưng danh như vậy là đồng đạo, là anh em, và không yêu thương nhau được, thì đúng là một gương xấu trước thế giới, và chỉ làm hổ danh Chúa Giêsu thôi!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Giáo Hội Công giáo phải đi bước đầu trong việc đại kết&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Vì thế, Đức Gioan-Phaolô II, với tư cách là giáo chủ của một tôn giáo lấy yêu thương làm bản chất của mình, đã muốn Giáo Hội Công giáo phải làm gương trước hết về tinh thần yêu thương đoàn kết này. Và điều đầu tiên phải làm trong hướng này là làm sao hiệp nhất các giáo phái Kitô hữu trên thế giới. Hiệp nhất các giáo phái – cùng theo Đức Giêsu, cùng lấy tinh thần yêu thương nhau làm bản chất của mình – là chuyện tương đối dễ hơn việc đoàn kết các tôn giáo khác, hoặc đoàn kết các quốc gia. Chuyện dễ làm chưa xong mà đã đòi làm chuyện khó thì khác gì chưa biết đi mà đã đòi chạy? &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Hiệp nhất tất cả các tập thể cùng theo Đức Kitô, để tất cả trở nên một khối duy nhất, chính là điều mà Đức Giêsu, Đấng sáng lập Kitô giáo, mong ước nhất: «&lt;i&gt;Ut sint unum = để họ nên một&lt;/i&gt;» (Ga 17,11.21.22.23). Đúng ra, các giáo phái của một tôn giáo lấy yêu thương làm cốt tủy của mình như Kitô giáo, thì đã phải hiệp nhất với nhau ngay từ đầu, và nếu có chia rẽ thì phải hiệp nhất lại với nhau rất sớm mới đúng. Nhưng trong lịch sử, Kitô giáo đã bị phân hóa thành rất nhiều giáo phái khác nhau. Không chỉ khác nhau mà còn kình địch, thù hằn nhau nữa. Mặc dù đã có những nỗ lực hiệp nhất lại, nhưng xem ra sự hiệp nhất vẫn còn khá xa vời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Đức Gioan-Phaolô II nhìn nhận lầm lỗi của Giáo Hội &lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Việc chia rẽ thành nhiều giáo phái trong Giáo Hội, vốn duy nhất ngay từ đầu, là lỗi tại ai? Ở đây tôi không có thẩm quyền quy kết lỗi cho ai, nhưng tôi thấy Đức Gioan-Phaolô II là người đã nhận ra chính Giáo Hội Công giáo đã có ít nhất một &lt;i&gt;phần nào &lt;/i&gt;lỗi lầm trong việc gây ra những chia rẽ ấy trong lịch sử. Vì thế với thái độ khiêm nhường sám hối, nhìn nhận &lt;i&gt;phần &lt;/i&gt;tội lỗi mình đã phạm – theo tinh thần kinh cáo mình mà mọi người Công giáo đều đọc trước mỗi thánh lễ – Đức Gioan-Phaolô II đã công khai nhìn nhận phần lỗi lầm của Giáo Hội Công giáo. Ngài thật sự nhìn nhận Giáo Hội công giáo đã ít nhiều «&lt;i&gt;phá hỏng sự hiệp nhất mà Thiên Chúa muốn có nơi Dân Ngài&lt;/i&gt;» ( Tông thư &lt;i&gt;Tiến tới thiên niên kỷ thứ ba, &lt;/i&gt;số 34), bất chấp những phản đối khá quyết liệt của nhiều giáo sĩ cao cấp dưới quyền ngài. Ngoài lầm lỗi vừa nêu, Ngài còn kêu gọi toàn Giáo Hội hãy sám hối về nhiều lầm lỗi khác nữa của mình. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Chính thái độ khiêm nhường này của Đức Gioan-Phaolô II đã làm cho cả thế giới nể phục, làm các giáo phái Kitô hữu gần lại với nhau hơn, và sự hiệp nhất vì thế đã được các giáo phái Kitô hữu khác quan tâm hơn. Mình có lỗi, dù ít hay nhiều, mà lại cố tìm cách tránh né, phủ nhận, không chấp nhận lỗi về phía mình chút nào, hoặc tìm cách đổ lỗi cho người khác, hành động đó không làm mình trở nên vô tội, mà chỉ chứng tỏ mình thiếu khiêm nhường, thiếu phục thiện và kém trưởng thành. Hành động như thế chỉ làm giảm tư cách của mình và làm cho những người chung quanh bớt kính phục.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Nói chung tâm lý con người là: khi ta nhận lỗi về phía mình, thì kẻ đang kết án ta sẽ khựng lại, không còn kết án ta nữa, mà có khuynh hướng xét lại chính bản thân họ, để rồi nhờ đó họ cũng nhận ra phần nào lỗi lầm về phía họ. Còn khi ta phủ nhận lỗi mình, chỉ biết kết án người khác, thì người bị kết án sẽ tự vệ bằng cách phủ nhận lỗi về phía họ và quay lại kết án ta. Thiết tưởng đây là tâm lý chung của mọi người mà ai cũng đều đã kinh nghiệm. Vì thế, khi Đức Gioan-Phaolô II tự nhìn nhận lầm lỗi về phía mình, thì tác dụng như trên cũng sẽ xảy ra. Chỉ có những kẻ thiếu lương tri và kém thành thật mới dựa vào sự nhận lỗi của kẻ khác để kết án mà không hề xét lại bản thân mình.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Tuy nhiên, tôi không hề nghĩ rằng việc nhận lỗi về phía Giáo Hội của Đức Gioan-Phaolô II là một chiến thuật có mục đích làm cho các giáo phái khác nhận lỗi. Hoàn toàn không phải như vậy. Nếu làm như vậy thì điều đó là giả hình. Tôi nghĩ chính ngài đã thật sự nhận ra phần lỗi lầm của Giáo Hội Công giáo trong quá khứ. Và tôi vô cùng khâm phục thái độ này của ngài. Điều ngài làm không hề làm giảm giá trị Giáo Hội Công giáo trước mặt Thiên Chúa và nhân loại, mà chỉ làm gia tăng giá trị của Giáo Hội lên.&lt;br /&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt; &lt;p style="color: rgb(0, 0, 153);"&gt; &lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Khiêm nhường nhận lỗi là một hành vi đẹp lòng Thiên Chúa &lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Con người, dù là bậc thánh, là cá nhân hay tập thể, đều có thể sai lỗi. Tục ngữ latinh có câu «&lt;i&gt;Errare humanum est&lt;/i&gt;» (sai lỗi là bản chất của con người), nên sai lỗi dù lớn tới đâu cũng không phải là chuyện gì vượt khỏi bản chất con người. Sự thánh thiện không nhất thiết đòi hỏi một quá khứ vô tội. Thật thế, có những người đã phạm những lỗi tầy trời mà vẫn trở nên thánh, chẳng hạn như Augustinô, trong Kinh Thánh có Maria Mađalêna, có người trộm lành. Trái lại, có biết bao người cả đời chẳng phạm một lầm lỗi nào lớn, nhưng chẳng thánh thiện gì cho lắm! Trước mặt Thiên Chúa, điều quan trọng và tối cần để nên thánh là phải đủ khiêm nhường và thẳng thắn nhìn nhận lỗi mình và quyết tâm sửa đổi.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đọc Tin Mừng – những đoạn như dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện (x. Lc 18,9-14), người con hoang đàng trở về với cha mình (Lc 15,11-32), người trộm lành cùng chịu đóng đinh bên cạnh Chúa (Lc 23,29-43) – và suy nghĩ về việc sa ngã của thiên thần Lucifer… tôi nhận thấy một số nghịch lý rất thực tế sau đây. Thiết tưởng những nghịch lý này người Kitô hữu cần nắm thật vững.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; – Tội lỗi đã phạm dù tầy trời đến đâu cũng không quan trọng bằng tinh thần khiêm nhường thống hối phải có. Sự khiêm nhường và thực tình thống hối có khả năng phủ lấp biết bao tội lỗi, khiến cho tội lỗi đã phạm có khả năng được xóa sạch, và người tội lỗi lập tức trở nên công chính. Người thu thuế và người trộm lành được kể là người công chính ngay khi họ nhìn nhận lỗi lầm của mình và hối hận, khiêm nhường xin Chúa tha thứ. Thánh Phêrô viết: «&lt;i&gt;Lòng yêu thương che phủ muôn vàn tội lỗi&lt;/i&gt;» (1Pr 4,8). Lòng yêu thương ở đây phải hiểu là tình thương đích thực, bao hàm lòng khiêm nhường đích thực. Đối với người khiêm nhường, có lòng yêu thương, thì dường như Thiên Chúa chỉ nhìn thấy tấm lòng khiêm nhường yêu thương của họ, chứ không còn thấy tội lỗi của họ nữa.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; – Sự trong sạch, các nhân đức dù to tát, việc giữ luật Chúa dù công phu hoàn hảo đến đâu cũng không bù đắp được lòng tự kiêu, tự mãn, khinh chê người khác. Chỉ một chút kiêu ngạo là đủ để biến tất cả những gì tốt đẹp trở thành con số không to tướng trước mặt Thiên Chúa. Thật vậy, có ai thánh thiện và tốt lành hơn Tổng Lãnh Thiên Thần Lucifer? Thế mà chỉ vì kiêu căng, tự mãn, ông đã trở thành thủ lãnh của tối tăm! Trong dụ ngôn Lc 18,9-14, người Pharisêu chắc chắn làm được nhiều việc tốt hơn người thu thuế, nhưng lòng tự hào của anh đã biến những việc tốt lành ấy mất hoàn toàn giá trị của chúng. Vì thế, đối với người kiêu ngạo, dường như Thiên Chúa chỉ nhìn thấy tính kiêu ngạo của họ chứ không còn thấy những điều tốt lành của họ nữa.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Về sự khiêm nhường và kiêu ngạo, một danh nhân nói: «&lt;i&gt;Khiêm nhường bao nhiêu đều không đủ, chỉ chút kiêu ngạo cũng quá nhiều!&lt;/i&gt;». Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô I (1912-1978) cũng viết: «&lt;i&gt;Trên thiên đàng không thiếu những phần thu đĩ điếm, nhưng không có kẻ kiêu ngạo. Dưới hỏa ngục có cả những hồng y giám mục, nhưng không có người khiêm nhường&lt;/i&gt;». Trong chiều hướng đó, tôi rất cảm phục Đức Gioan-Phaolô II về thái độ khiêm nhường trong tư cách đại diện Giáo Hội của ngài, và tôi cũng cảm thấy đó là một thái độ thức thời mà Giáo Hội cần phát huy trong thế giới hôm nay. Những lầm lỗi mà ngài nhìn nhận không phải là những lầm lỗi do ngài gây ra, mà do một số lãnh đạo Giáo Hội từ những thế kỷ trước gây ra. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đối với những lầm lỗi này, thái độ của Giáo Hội trong nhiều thế kỷ trước đó thường là phủ nhận, cho rằng những kẻ kết án Giáo Hội đã đặt điều bịa chuyện. Nếu không phủ nhận thì cũng tìm cách bào chữa, “thanh minh thanh nga” để lầm lỗi của mình được thông cảm, được coi nhẹ đi, chứ không can đảm và thẳng thắn nhìn nhận lỗi của mình. Sự phủ nhận đó khiến cho những người am hiểu lịch sử không nể phục Giáo Hội. Nhưng với hành động khiêm nhường nhận lỗi cho cả Giáo Hội, Đức Gioan-Phaolô II đã biến Giáo Hội thành một Giáo Hội khiêm nhường, thống hối. Điều này có giá trị trước mặt Thiên Chúa hơn tất cả những gì Giáo Hội có thể làm và đã làm. Và Giáo Hội nên giữ mãi thái độ này trước mặt Thiên Chúa và nhân loại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Việc thống nhất đức tin để đi đến hiệp nhất&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Công cuộc hiệp nhất các giáo phái Kitô hữu còn đang tiến hành, thì Đức Gioan-Phaolô II đã được Chúa gọi về, để lại công cuộc ấy lại cho Giáo Hội tiếp tục tiến hành. Và công cuộc này phải được các thành phần trong Giáo Hội góp phần thực hiện. Là một người rất tâm đắc với công cuộc này của Đức Gioan-Phaolô II, tôi có những suy nghĩ riêng của mình về công cuộc này. Trong tinh thần tự do đóng góp ý kiến của con cái Chúa, tôi xin trình bày ý tưởng của mình để góp phần làm sáng tỏ vấn đề hơn một chút. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Hiện nay, một trong những khó khăn nhất trong việc hiệp nhất các giáo phái Kitô hữu là sự thống nhất đức tin. Nhưng thử nhìn lại quá khứ lịch sử của Giáo Hội xem, chính vì muốn thống nhất đức tin trong từng chi tiết mà nhiều người đã phải rời bỏ Giáo Hội để lập nên những giáo phái khác. Một trong những nguyên nhân khá rõ ràng và chắc chắn của sự chia rẽ trong Giáo Hội chính là chủ trương thống nhất đức tin trong từng chi tiết. Thật vậy, cứ mỗi lần Giáo Hội đưa ra thêm một tín điều để định tín thêm một chi tiết đức tin thì thường phát sinh thêm một giáo phái mới tách rời khỏi Giáo Hội chỉ vì họ không thể chấp nhận việc định tín ấy. Nếu đó là một nguyên nhân gây ra chia rẽ, thì liệu chúng ta có thể dùng nguyên nhân ấy để tạo nên hiệp nhất trong tương lai không? Câu trả lời chắc chắn là không. Vì thế, để hiệp nhất Kitô giáo, thiết tưởng Giáo Hội không nên đặt nặng vấn đề thống nhất đức tin trong cả những chi tiết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Không nhất thiết phải thống nhất đức tin trong từng chi tiết&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Khởi đầu, khi Giáo Hội còn là một Giáo Hội duy nhất thì chỉ có một bản tuyên tín của các tông đồ gồm 12 điều mà chúng ta vẫn đọc trong kinh tin kính. Đó là 12 điều phải tin – còn gọi là lược đồ rao giảng (kérygma) – mà các tông đồ đã thống nhất với nhau trước khi chia tay mỗi người một phương để đi loan báo Tin Mừng khắp thế giới, và để Giáo Hội phát sinh khắp nơi trên thế giới sau này có thể thống nhất đức tin theo 12 điều ấy. Thiết tưởng tất cả các giáo phái Kitô hữu hiện nay đều có thể thống nhất đức tin bằng 12 điều này. Vì nếu không chấp nhận 12 điều này thì không còn là Kitô hữu nữa. Và đây chính là cơ sở bảo đảm nhất để các giáo phái Kitô hữu có thể hiệp nhất với nhau.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Nhưng Giáo Hội Công giáo lại muốn thống nhất đức tin toàn Giáo Hội bằng rất nhiều tín điều khác nữa. Số tín điều tăng lên tỷ lệ thuận với thời gian của lịch sử Giáo Hội. Cứ nhìn cuốn &lt;i&gt;Enchiridion Symbolorum&lt;/i&gt; dầy cộm cả 5,6 trăm trang gồm các tín điều và các định nghĩa của đức tin Công giáo (Symboles et Définitions de la Foi Catholique) do HEINRICH DENZINGER thu thập từ các công đồng chung và từ các giáo hoàng suốt 2000 năm nay thì thấy các tín điều nhiều đến thế nào. Phải đến hàng ngàn tín điều. Và các tín điều thường được viết theo công thức: «&lt;i&gt;Si aliquis… anathema sit&lt;/i&gt;» (= Si quelqu’un…, qu’il soit anathème, = Nếu ai…, thì người ấy bị vạ tuyệt thông) (&lt;b&gt;&lt;b&gt; [1]&lt;/b&gt;&lt;/b&gt;). Những chữ này như những nhát dao cắt lìa khỏi Giáo Hội những ai không đồng ý với bất kỳ điều nào trong những chi tiết đức tin ấy. Và hệ quả là vô số Kitô hữu đã bị tách rời khỏi Giáo Hội để trở thành những giáo phái Kitô hữu khác. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Nay muốn hiệp nhất các giáo phái Kitô hữu mà đòi hỏi họ phải chấp nhận hàng ngàn điều – mà trong quá khứ họ đã không chấp nhận – được thêm vào 12 điều căn bản ấy thì quả là điều không tưởng. Cả một đám đông người có thể cùng đồng ý với nhau một điều nào đó dễ dàng. Nhưng nếu buộc đám đông phải đồng ý 2 điều thì sẽ khó hơn. Với 10 điều thì càng khó nữa. Với 100 điều,1000 điều thì khó vô cùng. Cũng vậy,1 người có thể đồng ý với 1000 điều nào đó. Nhưng kiếm được 2 người cùng đồng ý 1000 điều ấy thì khó hơn. Với 10 người,100 người càng khó nữa. Và với 1000 người thì khó lắm. Vì thế, để thống nhất, thì càng có ít điều buộc mọi người phải đồng ý thì sự thống nhất càng dễ, càng có nhiều điều phải đồng ý thì sự thống nhất càng khó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Thống nhất đức tin bằng 12 điều căn bản trong kinh Tin Kính&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Thiết tưởng để hiệp nhất các giáo phái Kitô hữu, nên dùng nguyên tắc mà thánh Augustinô đã đề ra: «&lt;i&gt;In necessariis unitas, in dubiis libertas, in omnibus caritas&lt;/i&gt;» (những gì biết chắc chắn thì nên thống nhất, những gì còn nghi ngờ thì nên cho tự do, và trong tất cả mọi sự thì phải yêu thương nhau) (&lt;b&gt;&lt;b&gt; [2]&lt;/b&gt;&lt;/b&gt;). Chúng ta nên dựa vào Thánh Kinh và lịch sử để xác định những gì thật sự chắc chắn. Điều chắc chắn nhất là phải tin vào Đức Giêsu: «&lt;i&gt;Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;(Mc 16,16); «&lt;i&gt;Hãy tin vào Chúa Giêsu, thì ông và cả nhà sẽ được cứu độ&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;(Cv 16,31); «&lt;i&gt;Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;(Rm 10,9). &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Còn tin những gì thì các tông đồ đã đưa ra 12 điều căn bản mà tất cả mọi giáo phái Kitô hữu đều chấp nhận. Đó là những chân lý căn bản và cần thiết nhất mà tất cả các giáo phái đều có thể thống nhất với nhau. Mục đích của các tông đồ khi đưa ra 12 điều này chính là để thống nhất đức tin cho toàn Giáo Hội ở khắp nơi. Đã có tiêu chuẩn để thống nhất rồi, tại sao chúng ta lại không sử dụng? Những gì mà mỗi giáo phái thêm vào để buộc các tín hữu của mình phải tin thì đối với các tín đồ của riêng giáo phái ấy là điều chắc chắn (&lt;b&gt;&lt;b&gt; [3]&lt;/b&gt;&lt;/b&gt;); nhưng đối với tín đồ các giáo phái khác lại là những gì mà họ nghi ngờ. Vì thế, để hiệp nhất các giáo phái lại thành một thì phải để cho tự do trong những điều còn nghi ngờ ấy. Và điều quan trọng cuối cùng cũng là điều quan trọng nhất là mọi giáo phái Kitô hữu phải yêu thương đoàn kết với nhau như Đức Giêsu đã truyền dạy: «&lt;i&gt;Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em&lt;/i&gt;» (Ga 15,12; x.13,34; 15,17); «&lt;i&gt;Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau&lt;/i&gt;» (Ga 13,35). Không thể vì sự khác biệt trong chi tiết đức tin mà đánh mất tinh thần yêu thương đoàn kết này. Tinh thần yêu thương đoàn kết này phải đặt nặng hơn hàng ngàn lần việc thống nhất đức tin trong từng chi tiết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Phẩm chất đức tin quan trọng hơn số lượng những điều phải tin&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Nguyên tắc «&lt;i&gt;Quí hồ tinh, bất quí hồ đa&lt;/i&gt;», coi phẩm chất quan trọng hơn số lượng, là một nguyên tắc hết sức đúng đắn. Điều quan trọng để được cứu rỗi thiết tưởng là phẩm chất của đức tin chứ không phải là số lượng những điều phải tin. Thú thật với mọi người rằng 12 điều căn bản mà các tông đồ buộc phải tin đã là quá nhiều đối với tôi. Vì đối với tôi, tin hiểu theo nghĩa tôn giáo là xác tín, dấn thân và sống thực điều mình tin. Nếu không như thế, thì mới chỉ là biết cách lý thuyết chứ chưa phải là tin. Niềm tin thật sự phải đem lại sức mạnh trong thực tế đời sống (x. Lc 17,6). Chưa sống điều mình tin, và điều mình tin chưa đem lại sức mạnh và hạnh phúc cho mình, thì chưa phải là tin. Tin mà không biến thành hành động thì chưa phải là tin đích thực. Thánh Giacôbê viết: «&lt;i&gt;Đức tin không có hành động là đức tin chết&lt;/i&gt;» (Gc 2,17.26). Tin cả hàng ngàn điều mà chẳng có điều nào biến thành hành động, thì tin như thế có nghĩa lý gì? Người có «&lt;i&gt;đức tin chết&lt;/i&gt;» và người không tin thì chẳng hơn nhau bao nhiêu. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Chỉ cần tin thật chắc chắn và sống thật triệt để một số điều trong 12 điều ấy là tôi đã thấy cuộc sống mình thay đổi hẳn, có nhiều sức mạnh, được bình và hạnh phúc lắm rồi! Và tôi chỉ có sức tin và áp dụng thật sự trong đời sống một số điều trong 12 điều ấy thôi. Tôi chưa thể tin thêm được nữa. Những điều khác đối với tôi mới chỉ là kiến thức, hiểu biết, chứ chưa phải là tin, vì tôi chưa thấy những điều ấy ảnh hưởng thật sự làm thay đổi đời sống của tôi. Nếu có ai bảo rằng như thế là tôi chưa phải là người công giáo và loại tôi ra khỏi Giáo Hội Công giáo thì tôi cũng đành chấp nhận vậy. Tôi không thể làm khác hơn được! Các bà nhà quê vô học chắc cũng chẳng tin được bao nhiêu điều so với những gì các nhà thần học chủ trương phải tin, nhưng tôi nghĩ rằng giữa các bà ấy và các thần học gia kia chưa chắc ai đã có đức tin sống động nhiều hơn ai!&lt;br /&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt; &lt;p style="color: rgb(0, 0, 153);"&gt; &lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Phân biệt đức tin và kiến thức về Thiên Chúa &lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Cần phân biệt và đừng lẫn lộn giữa &lt;i&gt;đức tin vào Thiên Chúa&lt;/i&gt; và &lt;i&gt;kiến thức &lt;/i&gt;hay &lt;i&gt;lý thuyết về Thiên Chúa&lt;/i&gt;. Đức tin đích thực giúp người ta gần Thiên Chúa, cảm nghiệm được Thiên Chúa, từ đó khiến người ta gần gũi và yêu thương tha nhân. Sự khác nhau giữa hai điều ấy tương tự như một anh nông dân nọ ăn trái chuối thấy nó ngon, ngọt và cơ thể anh được khỏe mạnh hơn nhờ ăn trái chuối ấy. Anh ăn chuối rất nhiều lần và được bổ dưỡng biết bao nhiêu mà chẳng hề biết trái chuối bao gồm những chất gì trong ấy, ích lợi của chuối đối với cơ thể ra sao. Còn nhà khoa học nọ biết rất nhiều về các loại chuối, biết rõ tên từng chất trong trái chuối, tỷ lệ các chất ấy trong trái chuối thế nào, ích lợi của nó ra sao, nhưng ông chưa hề có dịp ăn hay nếm những trái chuối ấy bao giờ. Vì thế, ông chẳng bao giờ được hưởng một lợi ích nào từ chuối cả. Cũng vậy, đức tin đích thực về Thiên Chúa phải làm cho người ta thưởng nếm được Ngài, nhận được sức mạnh, sự bình an và hạnh phúc từ nơi Ngài. Tương tự như người nông dân trên cảm nghiệm được chất ngọt từ trái chuối thấm vào lưỡi, và được bổ dưỡng nhờ trái chuối. Còn kiến thức về Thiên Chúa chẳng làm người ta cảm nghiệm được Ngài, chẳng nhận được sức mạnh từ Ngài. Tương tự như nhà khoa học kia hiểu biết thật rõ về trái chuối mà chẳng hề ăn nó bao giờ, tuy biết nó ngọt nhưng chẳng cảm nghiệm được vị ngọt của nó từ lưỡi mình, tuy biết nó bổ dưỡng thế nào nhưng chẳng hề được nó bổ dưỡng bao giờ. Người ta có thể cãi nhau, bất đồng ý kiến với nhau về những kiến thức liên quan đến trái chuối, nhưng những người cùng ăn một loại chuối thì đều cảm nghiệm vị ngọt của chuối như nhau, và cùng được bổ dưỡng như nhau. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Nhiều người tưởng mình có đức tin vì chấp nhận là thật một số kiến thức nào đó về Thiên Chúa, tương tự như chấp nhận một số kiến thức khoa học nào đó là thật. Những kiến thức ấy không đi vào đời sống thực tế, không ảnh hưởng nhiều đến thái độ sống của họ, khiến họ sống chẳng có gì khác với người không tin. Đức tin ấy không làm cho đời sống tâm linh của họ phát triển và trở nên mạnh mẽ. Tin như thế chưa phải là đức tin, mà mới chỉ là kiến thức. Đức tin là cái gì được sống, còn kiến thức là cái gì được biết. Kiến thức về Thiên Chúa có được sống đích thực thì mới trở thành đức tin.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Kinh nghiệm cho tôi thấy: đức tin đích thực và đức ái đích thực có thể hiệp nhất con người lại với nhau. Nhưng lý thuyết về đức tin – tức các quan điểm thần học – thì thường chỉ làm người ta cãi lộn và chia rẽ nhau. Tranh luận để xem ai đúng ai sai về những kiến thức thì chỉ giống như hai nhà sư đánh lộn vì tranh nhau một cái lược: người dành được cái lược thì cũng chẳng biết dùng nó làm gì.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Vậy, để hiệp nhất các giáo phái Kitô hữu, chúng ta nên bằng lòng với số lượng tối thiểu những điều phải tin – là 12 điều trong kinh Tin Kính – mà tất cả các giáo phái có thể cùng đồng ý với nhau. Điều quan trọng chúng ta nên làm là củng cố phẩm chất của đức tin đã có nơi mọi Kitô hữu, hơn là gia tăng số lượng những điều phải tin. Chính đức tin có phẩm chất làm người ta kinh nghiệm thật sự về Thiên Chúa và gia tăng những kinh nghiệm ấy. Kinh nghiệm thêm về Thiên Chúa sẽ củng cố phẩm chất đức tin của họ. Đức tin có phẩm chất và kinh nghiệm thật sự về Thiên Chúa cho dù ít ỏi cũng ích lợi cho tâm linh con người gấp bội phần những kiến thức vô số về Thiên Chúa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Hiệp nhất trong đa dạng&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Như vậy, các giáo phái Kitô hữu đều có chung nhau một niềm tin căn bản. Tuy nhiên mỗi giáo phái vẫn còn có những điểm khác biệt nhau về chi tiết đức tin, về tổ chức nội bộ, về cơ cấu quyền bính, về lễ nghi, v.v… Sự khác biệt và đa dạng ấy phải được coi là điều tốt đẹp, hợp lý và tự nhiên, chứ không phải là một điều phi lý, khiếm khuyết hay đáng tiếc. Thật vậy, Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa Ba Ngôi, với ba ngôi vị đa dạng, khác biệt nhau, nhưng ba ngôi vẫn hiệp nhất với nhau thành một Thiên Chúa duy nhất. Thiên Chúa đa dạng và khác biệt ấy đã tạo dựng nên một vũ trụ cũng đầy khác biệt và đa dạng. Do đó, sự khác biệt và đa dạng ắt phải là điều tốt đẹp để vạn vật bổ túc cho nhau, cần lẫn nhau, và nhờ đó yêu thương hiệp nhất với nhau. Nhưng con người lại muốn biến đa dạng và khác biệt trong tự nhiên thành độc dạng và đồng dạng. Ai cũng bị cám dỗ ép buộc người khác phải giống mình, suy nghĩ như mình, chủ trương như mình. Chính ý muốn này đã gây nên chia rẽ, xung đột và chiến tranh khắp nơi. Sự khác biệt thay vì có tác dụng bổ túc lẫn nhau lại trở thành lý do để loại trừ và tiêu diệt lẫn nhau. Sự hiệp nhất nơi Ba Ngôi Thiên Chúa – mà chúng ta phải lấy làm gương mẫu – hoàn toàn không loại trừ sự khác biệt nhau, mà do tôn trọng sự khác biệt nhau. Theo đó, con người chỉ có thể hiệp nhất với nhau khi họ biết tôn trọng sự khác biệt của nhau. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Các giáo phái Kitô hữu muốn hiệp nhất với nhau thành một khối duy nhất cũng phải tôn trọng sự khác biệt và đa dạng ấy. Đó là «&lt;i&gt;hiệp nhất trong đa dạng&lt;/i&gt;» như công đồng Vatican II đã chủ trương. Nghĩa là trong khối duy nhất ấy vẫn phải có những đơn vị tập thể khác biệt nhau, nhưng đoàn kết yêu thương nhau như anh chị em cùng một gia đình. Trong một gia đình, anh chị em dù tính tình hay khuynh hướng khác nhau, nghề nghiệp, trình độ, tuổi tác khác nhau, tôn giáo, chính kiến khác nhau, v.v… nhưng vẫn có thể đoàn kết, hòa thuận, yêu thương, giúp đỡ, hy sinh cho nhau. Anh chị em càng tôn trọng sự khác biệt của nhau thì càng dễ hòa thuận yêu thương nhau. Anh chị em đang hòa thuận với nhau mà có ai muốn ép buộc người khác phải giống mình, phải theo lập trường của mình là lập tức sinh ra xung đột và chia rẽ. Yêu thương là chấp nhận khác biệt của nhau. Và yêu thương mới chính là yếu tố cần thiết của sự hiệp nhất, chứ không phải là sự đồng nhất. Khổng Tử nói: «&lt;i&gt;Quân tử hòa nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hòa&lt;/i&gt;» (Quân tử hòa thuận với nhau dù không giống nhau, tiểu nhân tuy giống nhau nhưng vẫn không hòa thuận với nhau được).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;b&gt;***&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Khi các giáo phái Kitô hữu đã hiệp nhất và đoàn kết yêu thương nhau, thì đó là dấu chứng mạnh nhất, là nền tảng vững chắc nhất để chúng ta có thể đến với các tôn giáo khác, để đoàn kết với họ xây dựng công lý và hòa bình cho nhân loại. Thiết tưởng đó là điều mà Đức Gioan-Phaolô II đã muốn thực hiện mà chưa xong, ngài mới chỉ hoàn thành những bước đầu căn bản và cần thiết. Điều ngài rất mong muốn trước khi về với Chúa là có nhiều người trong Giáo Hội góp phần tiếp nối công việc còn dang dở này. Không gì thể hiện lòng yêu mến ngài cho bằng noi gương ngài và tiếp tục sự nghiệp của ngài.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; ______________&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Phần chú thích&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(&lt;b&gt;&lt;b&gt;1&lt;/b&gt;&lt;/b&gt;) Dấu ba chấm “…” trong câu này thay cho một chi tiết không đúng với chủ trương đức tin của Giáo Hội. Xin trưng dẫn một vài câu điển hình trong cuốn &lt;i&gt;Enchiridion Symbolorum&lt;/i&gt; của HEINRICH DENZINGER, chẳng hạn khoản 140 là một phần những điều được tuyên tín trong cộng đồng Sirmium (vào năm 351). Khoản này có 27 câu, sau đây chỉ là 10 câu đầu:&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 1. &lt;i&gt;Những ai nói rằng Chúa Con xuất phát từ hư vô, hay từ một bản vị nào khác, mà không phải từ Thiên Chúa, rằng có một thời gian hay một giai đoạn Ngài không hiện hữu, thì Hội Thánh Công giáo coi họ như xa lạ với Hội Thánh &lt;/i&gt;(Ceux qui disent que le Fils vient du néant, ou d'une autre hypostase, et non de Dieu, qu'il fut un temps ou une durée où il n'était pas, la sainte Eglise catholique les tient pour étrangers à elle). &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 2. &lt;i&gt;Chúng tôi nói lại lần nữa, nếu ai nói rằng Chúa Cha và Chúa Con là hai Thiên Chúa, người ấy bị vạ tuyệt thông &lt;/i&gt;(A nouveau nous disons, si quelqu'un dit que le Père et le Fils sont deux dieux, qu'il soit anathème)&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 3. &lt;i&gt;Và nếu ai nói rằng Đức Kitô, Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa trước thời gian, nhưng không nhận rằng Ngài đã trợ giúp Thiên Chúa trong công việc tạo dựng vạn vật, người ấy bị vạ tuyệt thông&lt;/i&gt; (Et si quelqu'un dit que le Christ, comme Fils de Dieu, est Dieu avant tous les temps, mais ne confesse pas qu'il a aidé Dieu dans la création de toutes choses, qu'il soit anathème).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 4. &lt;i&gt;Nếu ai dám nói rằng Đức Maria hạ sinh (naitre) Đấng không-được-sinh-ra (non-engendré) hay hạ sinh một phần của Ngài, người ấy bị vạ tuyệt thông &lt;/i&gt;(Si quelqu'un ose dire que le non-engendré ou une partie de lui est né de Marie, qu'il soit anathème)&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 5. &lt;i&gt;Nếu ai nói rằng Chúa Con có trước Đức Maria theo sự biết trước, chứ không nói Ngài được Chúa Cha sinh ra và ở bên Chúa Cha, và nhờ Ngài mà vạn vật được tạo thành, người ấy bị vạ tuyệt thông &lt;/i&gt;(Si quelqu'un dit que le Fils est avant Marie selon la prescience, et non qu'engendré du Père avant les siècles il est auprès de Dieu, et que par lui toutes choses ont été faites, qu'il soit anathème).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 6. &lt;i&gt;Nếu ai nói rằng bản thể của Thiên Chúa tăng thêm hay giảm đi, người ấy bị vạ tuyệt thông&lt;/i&gt; (Si quelqu'un dit que la substance de Dieu se dilate ou se contracte, qu'il soit anathème).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 7. &lt;i&gt;Nếu ai nói rằng bản thể của Thiên Chúa tăng thêm làm nên Chúa Con, hay gọi Chúa Con là sự tăng thêm của bản thể Chúa Cha, người ấy bị vạ tuyệt thông&lt;/i&gt; (Si quelqu'un dit que la substance de Dieu dilatée fait le Fils, ou appelle Fils la dilatation de sa substance, qu'il soit anathème).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 8. &lt;i&gt;Nếu ai gọi Con Thiên Chúa là Lời bên trong hay Lời phát ra, người ấy bị vạ tuyệt thông&lt;/i&gt; (Si quelqu'un appelle le Fils de Dieu Verbe intérieur ou proféré, qu'il soit anathème).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 9. &lt;i&gt;Nếu ai nói rằng con của Đức Maria chỉ là một con người, người ấy bị vạ tuyệt thông&lt;/i&gt; (Si quelqu'un dit que le fils de Marie est seulement un homme, qu'il soit anathème).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 10. &lt;i&gt;Khi gọi Đấng được sinh ra bởi Đức Maria là Thiên Chúa và là người, nếu ai từ đó hiểu rằng Ngài là Thiên Chúa không-được-sinh-ra, người ấy bị vạ tuyệt thông&lt;/i&gt; (Si quelqu'un, nommant celui qui est de Marie Dieu et homme, entend par là le Dieu non engendré, qu'il soit anathème).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;  (khoản 140 này còn 17 câu nữa).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;  (&lt;b&gt;&lt;b&gt;2&lt;/b&gt;&lt;/b&gt;) Trước đó, Rupertus Meldenius có viết: «&lt;i&gt;In necesariis unitas, in non-necessariis libertas, in utrisque caritas&lt;/i&gt;» (Thống nhất trong những gì chắc chắn, tự do trong những gì không chắc chắn, và yêu thương trong cả hai điều ấy).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;  (&lt;b&gt;&lt;b&gt;3&lt;/b&gt;&lt;/b&gt;)Những gì được coi là chắc chắn trong phạm vi một giáo phái, thì giáo phái ấy có thể buộc riêng các tín đồ trong giáo phái mình phải tin. Nhưng để đi đến thống nhất, không thể áp đặt các giáo phái khác cũng phải chấp nhận cả những điều này.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-2928819295336113964?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/2928819295336113964'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/2928819295336113964'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/09/gioanphaolo2giaohoangcuadaiket.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-8641038751751911364</id><published>2009-09-04T20:46:00.000-07:00</published><updated>2009-09-04T20:52:29.518-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;Bảy ước mơ của tôi&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;về Giáo Hội trước thềm Năm Mới&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt; &lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Nguyễn Chính Kết&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;br /&gt;C&lt;/b&gt;hẳng còn bao lâu nữa chúng ta sẽ bước sang năm Ất Dậu. Thời điểm đầu năm là thời điểm thuận lợi nhất để chúng ta nói lên những mơ ước của mình, đối với Giáo Hội cũng như xã hội. Đã gọi là mơ ước thì chúng có thể là những điều không thực hiện được. Nhưng quả thực, nếu không có những giấc mơ đi trước để định hướng cho những thực hiện theo sau, thì sẽ chẳng có gì tốt đẹp được thực hiện cả. Vì thế, chúng ta hãy cứ mơ trước đi đã. Mơ để được sống trong hy vọng, hy vọng những giấc mơ của mình thành hiện thực. Không có hy vọng, không có một viễn ảnh tốt đẹp cho tương lai, con người sẽ không có động lực để sống, để cố gắng, để xây dựng cho bản thân, cho Giáo Hội và xã hội.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Mơ là bước khởi đầu cần thiết để đi đến hiện thực&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;Ư&lt;/b&gt;ớc mơ hầu như luôn luôn là bước khởi đầu để đi đến hiện thực, vì có mơ ước thì mới có một cái gì đó làm nhân khởi đầu, hay làm đích nhắm trong quá trình biến nó thành hiện thực. Những thành tựu lớn của nhân loại hiện nay đều khởi đầu từ những mơ ước, mang tính tưởng tượng hơn là thực tế. Quả thật, nhiều mơ ước đầy tính viển vông trong tiểu thuyết của Jules Verne nay đã thành hiện thực (xem ghi chú 1*). Việc lên cung trăng, lên sao Hỏa, điện thoại có cả hình ảnh, tivi mầu, máy vi tính, mạng Internet… không việc nào mà không khởi đầu từ một giấc mơ. Như vậy mơ là điều hết sức quan trọng, nhưng mơ lại là việc dễ làm nhất trong những bước đi đến hiện thực. Vậy thì tội gì mà không mơ? Hãy mơ cho nó đã trí tưởng tượng! &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;M&lt;/b&gt;uốn xã hội cũng như Giáo Hội tiến bộ và làm được những việc vĩ đại, thì việc trước tiên là phải &lt;i&gt;mơ&lt;/i&gt;, đồng thời nói lên mơ ước của mình. Trong chiều hướng đó, trước khi bước vào Năm Mới Ất Dậu, tôi muốn nói lên những ước mơ của mình về Giáo Hội. Và Giáo Hội tôi nói tới ở đây là Giáo Hội Việt Nam nhiều hơn là Giáo Hội nói chung.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Những ước mơ của tôi &lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;1. Giáo Hội trở thành Nước Trời tại thế&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;N&lt;/b&gt;iềm ước mơ lớn nhất của tôi về Giáo Hội, đó là mơ Giáo Hội trở thành Nước Trời thật sự, một Nước Trời &lt;i&gt;tại thế&lt;/i&gt; trước khi là một Nước Trời &lt;i&gt;tại thiên. &lt;/i&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;N&lt;/b&gt;ước Trời luôn luôn là lý tưởng, là đích phải nhắm tới của mọi thể chế Giáo Hội cũng như xã hội. Nước Trời – hay Nước Thiên Chúa – là từ được dùng trong Tin Mừng để chỉ một xã hội toàn hảo, trong đó tất cả mọi người đều được hạnh phúc. Xã hội đó hạnh phúc và toàn hảo vì vị vua cai trị xã hội đó là một minh quân, đầy tình yêu, khôn ngoan, và quyền năng. Và vị vua của Nước Trời theo nghĩa viên mãn nhất là Thiên Chúa, hay Đức Kitô, Ngài chính là Tình Yêu, Khôn Ngoan, và Quyền Năng. Nhờ đó, tất cả mọi người trong xã hội ấy đều đối xử với nhau bằng tình thương, một cách cụ thể và thực tế. Vì tình thương luôn luôn được thể hiện mọi nơi mọi lúc, nên xã hội không còn tranh chấp, hận thù, mọi người đều sống trong an bình, từ trong tâm hồn ra đến ngoài xã hội. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;T&lt;/b&gt;hánh Kinh đã mô tả tình trạng hết sức tốt đẹp đó của Nước Trời bằng những hình ảnh như:&lt;i&gt; &lt;/i&gt;«&lt;i&gt;Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng. Bò cái kết thân cùng gấu cái, con của chúng nằm chung một chỗ, sư tử cũng ăn rơm như bò. Bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục, trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang. Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp núi thánh của Ta, và sự hiểu biết Đức Chúa sẽ tràn ngập đất này cũng như nước lấp đầy lòng biển&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;(Isaia 11,6-9). Tất cả những thế lực mà trước đây được quan niệm là ghen ghét, thù nghịch nhau, thì bấy giờ trở thành bạn hữu, yêu thương nhau, sống chung hòa bình với nhau. Trong xã hội lúc đó, tất cả những người ác độc không phải bị tiêu diệt cho bằng được tình thương biến đổi, cảm hóa thành hiền lành, thuận thảo. Chỉ có sự ác là bị tiêu diệt thôi. Còn nhiều đoạn khác trong Thánh Kinh, đặc biệt trong Isaia, cũng mô tả sự tốt đẹp, thái bình, hạnh phúc của Nước Trời (Xem Isaia 66,25; 29,18-20; 32,1.4-5; 35,5-10; 24,6-10;). &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;T&lt;/b&gt;ôi cũng mơ ước toàn thể thế giới biến thành Nước Trời, nhưng có lẽ Nước Trời chỉ được khơi mào từ Giáo Hội Chúa Kitô. Nếu Giáo Hội không biến thành Nước Trời, thì còn hy vọng gì nơi những xã hội khác! nhất là toàn thể thế giới! Và giả như có một xã hội trần thế nào khác gần với Nước Trời hơn, thì lúc ấy Giáo Hội quả là… cần phải sám hối và đặt lại vấn đề, vì đáng lẽ Giáo Hội phải là hình ảnh trung thực nhất của Nước Trời:&lt;i&gt; &lt;/i&gt;một thời rất lâu, thậm chí cho đến nay, nhiều nhà thần học đã đồng hóa Giáo Hội với Nước Trời kia mà! &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;M&lt;/b&gt;ơ ước như thế thì quả là quá chung chung, chẳng cụ thể. Tôi nghĩ cần phải mơ một cách thực tế hơn, nghĩa là đi vào chi tiết hơn. Để Giáo Hội biến thành Nước Trời tại thế, tôi mơ rằng…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;2. Giáo Hội đi bước đầu… bằng cách biến mình thành Nước Trời trước đã&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;G&lt;/b&gt;iáo Hội được mời gọi biến thế giới này thành Nước Trời. Đó cũng là công việc mà Giáo Hội thừa kế của Chúa Giêsu, qua các tông đồ. Nhưng để thực hiện được điều đó, thì Giáo Hội phải thực hiện Nước Trời trước tiên ngay trong nội bộ của mình. Thật vậy, làm sao Giáo Hội có thể biến trần thế này thành một thế giới đầy yêu thương khi mà ngay trong lòng Giáo Hội, vẫn còn nhiều hận thù ghen ghét, các thành viên của Giáo Hội vẫn chưa yêu thương nhau, vẫn chưa quan tâm đến nhau, chưa sẵn sàng chia sẻ cho nhau. Giáo Hội luôn luôn kêu gọi người giàu, nước giàu chia sẻ những gì mình dư dật cho người nghèo, nước nghèo. Nhưng thử xét xem, điều đó đã được thực hiện ngay trong nội bộ Giáo Hội chưa? Đáng lẽ điều này phải được thực hiện ưu tiên trong hàng ngũ giáo phẩm và giáo sĩ, là giới có bổn phận làm gương và giảng dạy. Nếu giới này chưa làm được thì có được bao nhiêu hy vọng nơi những giới khác? &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;M&lt;/b&gt;uốn Giáo Hội toàn thể trở thành Nước Trời, thì chúng ta phải bắt đầu từ những Giáo Hội nho nhỏ là gia đình Kitô hữu, xứ đạo, giáo phận, v.v… Mỗi Giáo Hội nho nhỏ ấy phải biến thành một Nước Trời nho nhỏ. Nước Trời sẽ đến, nếu trong mỗi gia đình Kitô hữu, vợ và chồng, con cái và cha mẹ thật sự yêu thương nhau bằng những hành động cụ thể. Nước Trời sẽ đến, nếu trong xứ đạo, cha sở cha phó yêu thương nhau như anh em ruột thịt, nếu linh mục và giáo dân cộng tác với nhau chặt chẽ trong tinh thần cởi mở, hòa đồng. Nước Trời sẽ đến, nếu trong giáo phận, có sự hài hòa giữa giám mục và linh mục, giữa linh mục với nhau, giữa linh mục và giáo dân, và giữa giáo dân với nhau, không còn tinh thần cha chú, áp đặt, mâu thuẫn, xung đột. Nước Trời sẽ đến, nếu các giáo xứ giàu biết chia sẻ của cải cho những giáo xứ nghèo, các linh mục sống đầy đủ biết san sẻ cụ thể cho những linh mục phải sống thiếu thốn, đồng thời biết nghĩ đến công lao và nhu cầu cụ thể của những người vẫn cộng tác với mình một cách «&lt;i&gt;công quả&lt;/i&gt;». &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;N&lt;/b&gt;ước Trời làm sao có thể đến được trong gia đình khi mà vợ chồng bất hòa vì không nhịn nhục nhau, khi cha mẹ không đủ yêu thương để quan tâm đến con cái đúng mức, khi con cái không kính nể và vâng lời cha mẹ? Nước Trời làm sao có thể đến được trong xứ đạo khi mà cha xứ và cha phó nói xấu nhau, trành giành ảnh hưởng lẫn nhau, hoặc không thể cùng ăn chung với nhau một nồi cơm? Nước Trời làm sao có thể đến được khi mà một đằng Giáo Hội kêu gọi người giàu chia sẻ cho người nghèo, nước giàu chia sẻ cho nước nghèo, đằng khác người Công giáo – ngay cả tu sĩ, linh mục, giám mục – lại là phản chứng của lời kêu gọi ấy, và dường như muốn chứng tỏ rằng lời kêu gọi ấy là không thể thực hiện được? Rất có thể cách hành xử của chúng ta đang thật sự là những phản chứng của Nước Trời, trong khi miệng ta vẫn luôn luôn nhiệt liệt hô hào ủng hộ Nước Trời! Nếu thế thì Nước Trời vẫn còn xa chúng ta lắm! &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;Đ&lt;/b&gt;iều quan trọng nhất, cần thiết nhất và cần được ưu tiên nhất – trước cả những hình thức của đức ái – mà chúng ta phải thực hiện trong nội bộ Giáo Hội là sự &lt;b&gt;&lt;i&gt;công bằng &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;trong Giáo Hội. Đức Ái là cốt tủy của Kitô giáo mà Giáo Hội phải quyết tâm thực hiện trong mọi tầng lớp, mọi cơ sở, mọi nơi và mọi lúc. Và hàng giáo sĩ cần phải là gương mẫu cho giáo dân noi theo về mặt này, có thế mới phù hợp với những danh xưng tôn quý mà giáo dân dành cho mình. Nhưng &lt;i&gt;công bằng là nền tảng của đức ái&lt;/i&gt;: không thể có đức ái chân thật khi sự công bằng không được tôn trọng. Tất cả mọi hình thức đức ái không được xây dựng trên nền tảng công bằng đều chỉ là bác ái giả hiệu. Nhưng thử hỏi trong Giáo Hội đã có sự công bằng tương đối thỏa đáng chưa? Có sự chênh lệnh quá đáng và không hợp lý trong sự phân bố quyền bính, quyền lợi, mức sống, v.v… trong Giáo Hội không? Cơ cấu Giáo Hội có phải là một cơ chế đáng cho các xã hội khác trên thế giới rập khuôn noi theo để trở nên những xã hội công bằng yêu thương hơn, hay là một cơ chế có nhiều nét giống với những cơ chế mà thế giới đang muốn vượt qua và không nên bắt chước? Cho đến nay, Giáo Hội lý tưởng nhất, gần với Nước Trời nhất vẫn là Giáo Hội thời sơ khai. Hình thái của Giáo Hội hiện nay càng ngày càng gần hay càng ngày càng xa với Giáo Hội lý tưởng ấy? – Thiết tưởng đã đến lúc chúng ta cần nghiêm chỉnh xét lại vấn đề nền tảng là sự công bằng trong Giáo Hội với tinh thần sám hối và sửa sai để Giáo Hội trở nên một biểu tượng trung thực nhất của Nước Trời ở trần gian.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;3. Giáo Hội cùng xây dựng Nước Trời với các tôn giáo khác,&lt;br /&gt;với những lực lượng trần thế&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;N&lt;/b&gt;ước Trời sẽ đến khi mà những thế lực thù địch trở thành bạn hữu, những người xưa nay ghen ghét nhau trở thành yêu thương nhau, sống hài hòa với nhau. Điều đó đã được Kinh Thánh nói thật rõ. Vì thế, để Nước Trời đến, mỗi người Kitô hữu phải nỗ lực trở thành những người kiến tạo hòa bình theo tinh thần mối phúc thứ 7 trong 8 mối phúc của Chúa (xem Mt 5,9). Nghĩa là chẳng những người Kitô hữu không được hận thù ai, mà còn phải nỗ lực làm cho mọi người yêu thương nhau, cộng tác với nhau nữa. Và trước tiên, người Kitô hữu hay Giáo Hội phải làm gương trong việc yêu thương và cộng tác với mọi người trong việc xây dựng những thiện ích chung. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;T&lt;/b&gt;ừ Công Đồng Vatican II về sau, Giáo Hội nói nhiều đến đối thoại, cộng tác, đặc biệt là đối thoại với các tôn giáo, với các lực lượng trần thế, nhất là hiện nay, sau Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu tại Rôma năm 1998. Nhưng đối thoại để làm gì nếu không dẫn đến yêu thương và cảm thông, đến việc cùng dấn thân, cùng cộng tác? Thế thì tại sao chúng ta không bắt đầu đối thoại, trao đổi với các tôn giáo, với các tổ chức xã hội – không phải để bàn về chân lý, về những vấn đề thần học, hay về Mầu Nhiệm Thiên Chúa – mà bàn về phương cách cùng nhau xây dựng xã hội, đất nước, và thế giới, cùng lo cho thiện ích chung của tất cả mọi người không phân biệt tôn giáo, ý thức hệ, giàu nghèo… Mọi tôn giáo và mọi tổ chức xã hội tốt lành đều kêu gào tín đồ hay con dân của mình yêu thương nhau, cộng tác với nhau, tại sao chính các tôn giáo hay các tổ chức xã hội ấy lại không hành xử như thế đối với nhau? Nhiều tôn giáo dạy về yêu thương và đoàn kết rất hay nhưng chính mình lại không muốn cộng tác hay cự tuyệt cộng tác với các tôn giáo khác, các tổ chức xã hội khác! &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;C&lt;/b&gt;oi chừng kẻo rất có thể chúng ta đang mải miết lo quảng bá Tin Mừng cho mọi người, nhưng chính chúng ta lại là những người ít sống tinh thần Tin Mừng hơn ai hết, khi chúng ta không muốn cộng tác với những người chúng ta không ưa, những người không đồng lập trường về tôn giáo, chính trị, văn hóa, xã hội với chúng ta. Chắc chắn Thiên Chúa muốn chúng ta &lt;b&gt;&lt;i&gt;thật sự sống tinh thần Tin Mừng nhiều hơn là quảng bá Tin Mừng&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;. Cả hai đều phải làm, nhưng sống Tin Mừng quan trọng hơn, và phải được ưu tiên hơn. Nhưng chúng ta thường làm ngược lại cách thức của Đức Kitô, Ngài «&lt;i&gt;làm trước, dạy sau&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;(facere et docere), còn chúng ta thì dạy trước, làm sau, thậm chí không làm, chỉ dạy thôi! &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;M&lt;/b&gt;ột căn bệnh trầm kha của người Kitô hữu hiện nay là rao giảng và quyết tâm bảo vệ những chân lý mà chính mình chưa sống hay không chịu sống. Chúng ta rao giảng yêu thương, đoàn kết, cộng tác, quên mình, thậm chí yêu thương cả kẻ thù, nhưng thử hỏi:&lt;i&gt; &lt;/i&gt;Giáo Hội đã thực hiện điều đó đối với các tôn giáo khác, với những tổ chức xã hội chủ trương khác hay ngược lại chúng ta chưa? Hay chúng ta vẫn còn đầu óc nghi kỵ, bảo vệ những thành kiến tuy có đúng với thực tế trước đây, nhưng có thể không còn đúng lắm trong hiện tại? Giáo Hội đã sống tinh thần tự hủy, quên mình, không ích kỷ, không quy kỷ (égocentrique) chưa? &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;N&lt;/b&gt;ếu tôn giáo nào, tổ chức xã hội nào cũng đều muốn củng cố chính mình, phát triển chính mình, mà không quan tâm tới những nền tảng chung, quyền lợi chung, thiện ích chung của thế giới, đất nước, xã hội mà mình sống trong đó, thì một cách nào đó, chúng ta cũng chỉ là những tập thể ích kỷ, chỉ biết lo cho mình, co cụm vào chính mình. Chắc chắn Đức Kitô không muốn Giáo Hội hành động như thế. Ngược lại, Giáo Hội cần phải đi tiên phong trong việc xây dựng thế giới, xã hội, cho dù là thế giới trần tục, hay xã hội trần tục. Và Giáo Hội không nên làm điều đó một mình, mà phải cùng làm với những tổ chức xã hội khác, với các tôn giáo khác. Chính lúc cùng cộng tác với nhau, các tôn giáo, các tổ chức xã hội sẽ hiểu nhau một cách thực tế. Nhờ sự cộng tác đó, Giáo Hội cũng sẽ làm cho các tôn giáo khác hiểu mình, và mình cũng hiểu được các tôn giáo khác. Chứ chúng ta không nên ngồi ở trong vỏ ốc của mình, để rồi cứ tiên thiên dựa vào những tiêu chuẩn hay nguyên tắc nào đó của mình chứ không dựa vào thực tế, mà phán xét về giá trị, về khả năng cứu rỗi, giáo hóa của các tôn giáo hay những tổ chức xã hội khác. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;G&lt;/b&gt;iáo Hội muốn là Giáo Hội đích thực, trung thành với đường lối của Đức Kitô, Thầy mình, thì phải bắt chước Thầy mình trước tiên trong hành động, nghĩa là phải trở thành một Giáo Hội dấn thân thật sự, vào những lãnh vực trần thế, cùng với tất cả mọi người, mọi tổ chức khác. Khi dấn thân thật sự, tư tưởng của chúng ta sẽ trở thành thực tế. Nếu không dấn thân, tư tưởng của ta dễ trở thành không tưởng, không bám rễ vào thực tại. Chính khi chúng ta chỉ biết yêu thương, dấn thân, cộng tác, cởi mở, chân tình, quên mình, không nhằm rao giảng, truyền giáo, thì lúc đó chúng ta mới rao giảng và truyền giáo một cách hữu hiệu, đúng nghĩa nhất. Đó chính là rao giảng bằng đời sống, chứ không phải bằng lời nói. Lúc đó, tuy không nói về Chúa, nhưng quanh chúng ta, ai cũng cảm nghiệm được Chúa một cách hiện thực, cụ thể nơi chính bản thân ta, trong đời sống và cách hành xử của ta (2*). Còn nếu chỉ rao giảng Chúa bằng lời nói, thì một cách vô tình, ta đã làm cho người ta có cảm tưởng Chúa chỉ là một thứ bánh vẽ, một loại «&lt;i&gt;thuốc phiện&lt;/i&gt;», một cái gì đó không tưởng. Và có lẽ chính chúng ta đã biến Chúa thành như thế nơi chính bản thân ta rồi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;4. Giáo Hội thích ứng với thế giới và con người thời đại hơn&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;Đ&lt;/b&gt;ể biến thành Nước Trời, thì điều kiện trước tiên là Giáo Hội phải tồn tại và phát triển. Bất kỳ sinh vật nào muốn tồn tại và phát triển, thì phải biết thích ứng với môi trường. Vì thế, Giáo Hội cần thích ứng với thế giới và xã hội. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;T&lt;/b&gt;hế giới và xã hội thay đổi không ngừng, và sự thay đổi trở nên càng ngày càng nhanh. Chỉ trong 100 năm cuối cùng của thiên niên kỷ thứ hai, thế giới đã thay đổi nhiều hơn trong 3, 4 thiên niên kỷ trước cộng lại. Và trong 100 năm ấy thì 20 năm cuối có nhiều thay đổi hơn 80 năm trước cộng lại. Cứ đà ấy, thì chỉ 10 năm nữa, sự thay đổi chắc chắn sẽ lớn hơn 20 năm vừa qua. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;S&lt;/b&gt;ự thay đổi của môi trường xã hội đòi hỏi con người phải thích ứng mới có thể tồn tại và phát triển được. Chính vì thế, con người thời nay đã phải thay đổi rất nhiều. Đời sống, môi trường, hoàn cảnh, tâm lý, cách thức suy nghĩ của con người bây giờ khác hẳn với cách đây 50 năm, 100 năm về trước. Nhu cầu vật chất đã thay đổi rất nhiều. Tại các thành thị, người ta không thể sống mà không có điện, không có tivi, điện thoại, xe gắn máy hay xe hơi, không thể làm việc mà không có máy vi tính, không có internet, v.v… như 50 hay 100 năm trước. Cứ so sánh nhà cửa bây giờ với 50 năm trước thì sẽ tưởng tượng được sự thay đổi lớn thế nào. Nhu cầu trí thức, tinh thần, tâm linh đương nhiên cũng đã, đang, sẽ thay đổi, và chắc chắn thay đổi rất nhiều. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;N&lt;/b&gt;gày nay, thế giới và mọi xã hội trong đó đang &lt;i&gt;được&lt;/i&gt; hoặc &lt;i&gt;bị&lt;/i&gt; khoa học hóa, kỹ nghệ hóa, công nghiệp hóa, toàn cầu hóa, đô thị hóa, tục hóa, khử thiêng hóa… Vì thế, thế hệ trẻ ngày nay mang nặng đầu óc khoa học thực nghiệm, không dễ dàng chấp nhận tính cách giáo điều, hay những điều được phát biểu một cách tiên thiên, không chứng minh, như các thế hệ trước. Họ rất nhạy bén trong việc nhận ra những gì không hợp lý, không có cơ sở thực tế. Họ cũng thích tự do, khó lòng chấp nhận những gì mang tính áp đặt, những định chế, quyền bính. Thêm vào đó, hoàn cảnh kinh tế xã hội khiến họ không còn nhiều thì giờ để nghĩ đến những vấn đề tâm linh, để cầu nguyện, để đến nhà thờ dự những nghi thức, để nghe những bài giảng kéo dài hàng giờ hay nửa giờ như trước. Đời sống là một cuộc chạy đua với chiếc đồng hồ. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;T&lt;/b&gt;rước sự thay đổi về mặt tinh thần hay tâm linh ấy, Giáo Hội đã thay đổi như thế nào để thích ứng với con người thời đại? Hình thức hay phương cách giữ đạo mà người Kitô hữu thời nay đang theo có khác với cách đây 50 năm, 100 hay 200 năm trước không? Cách diễn tả đức tin trong việc dạy giáo lý, trong việc đào tạo người tín hữu, cũng như các linh mục tu sĩ hiện nay có gì thay đổi không? Thích ứng đòi hỏi phải thay đổi, không thay đổi tức là không thích ứng. Nếu không thay đổi kịp thời, hoặc không thay đổi bao nhiêu so với những thay đổi lớn lao của thế giới, liệu con cháu chúng ta có còn chấp nhận được hình thức tôn giáo mà chúng ta hiện nay đang chấp nhận không? Các nhà thờ trống trơn hiện nay ở Âu Châu chẳng làm cho chúng ta suy nghĩ đến tương lai của Kitô giáo tại Việt Nam sao? &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;B&lt;/b&gt;ảo thủ, không chấp nhận thay đổi những gì cần phải thay đổi nhiều khi đồng nghĩa với tự sát. Nhiều người tưởng rằng mình đang bảo vệ Giáo Hội khi họ quyết tâm bảo vệ những hình thức giữ đạo cũ, nhưng thực ra là họ đang làm cho Giáo Hội bị vượt qua, và cuối cùng bị đào thải. Nhiều người đang phá hoại Giáo Hội bằng cách bảo vệ Giáo Hội một cách ngu xuẩn, giống như một người quyết tâm bảo vệ ngôi nhà cũ đã phần nào hư hỏng, bằng cách chống lại bất cứ ai đập phá căn nhà đó để sửa chữa hay để xây dựng lại cho chắc chắn, đẹp đẽ và phù hợp với nhu cầu mới của người trong nhà hơn. Họ đã hành động giống như Đức Kitô đã tiên báo:&lt;i&gt; &lt;/i&gt;«&lt;i&gt;Sẽ đến giờ mà kẻ giết anh em cũng tưởng rằng họ làm điều đó là phụng thờ Thiên Chúa&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;(Ga 16,2). Họ có thể là những người sẵn sàng ném đá hoặc giết những tiên tri đồng thời với họ do Thiên Chúa sai đến để sửa chữa mà họ lại lầm tưởng là phá hoại, giống như những người Pharisiêu và cha ông của họ đã làm (xem Mt 23,30-31). &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;Đ&lt;/b&gt;iều tôi mơ ước là Kitô giáo là một tôn giáo nhập thể thật sự đúng như Thầy mình là Đức Kitô. Ngài đã tự thay đổi, từ một Thiên Chúa trở thành một con người, để hòa mình và thích ứng với tình trạng hạn chế của nhân loại. Tôi mơ rằng thế giới biến đổi tới đâu thì Giáo Hội thích ứng tới đó, một cách kịp thời, để có thể tạo một ảnh hưởng tốt và hữu hiệu trên thế giới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;5. Giáo Hội có cái nhìn tiên tri hơn&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;T&lt;/b&gt;rong quá khứ, cách đây mấy thế kỷ, khi truyền giáo sang Á Châu, Giáo Hội cần phải hội nhập văn hóa để đưa Kitô giáo vào lòng các dân tộc Á Châu, thì lúc đó Giáo Hội đã chưa ý thức đủ để thực hiện điều đó một cách đúng mức. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;N&lt;/b&gt;gày nay, Giáo Hội rút được kinh nghiệm của quá khứ, và đang rất ý thức về vấn đề này, thì liệu việc hội nhập văn hóa – hiện thường được hiểu theo theo chiều ngang, một phần nào là sự thích ứng giữa văn hóa Âu Châu của người truyền giáo và văn hóa Á Châu của người thụ giáo – có còn cần thiết lắm không? Hay chúng ta phải bắt đầu nghĩ đến một thứ hội nhập văn hóa khác, đó là hội nhập văn hóa theo chiều dọc, nghĩa là sự thích ứng cách diễn tả sứ điệp của thế hệ trước khi truyền đức tin lại cho thế hệ sau? Hay chúng ta chờ cho có những thất bại đã, rồi sẽ rút ra bài học sau. Và khi đã rút ra được bài học, thì liệu bài học ấy có còn hợp thời không, hay đã lỗi thời rồi? &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;T&lt;/b&gt;rong «&lt;i&gt;Cổ học Tinh hoa&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;có chuyện:&lt;i&gt; &lt;/i&gt;một người thấy trời hay mưa, nên học làm dù hết ba năm. Khi thành nghề thì trời lại đại hạn, dù không bán được nữa, nên anh quay sang học nghề làm gầu tát nước. Khi thành nghề làm gầu thì trời lại hay mưa, anh quay ra làm dù. Được mấy năm thì chiến tranh, dù không bán được, anh xoay sang nghề đúc binh khí thì đã già quách rồi… Do đó, người biết nghĩ trước, nhìn thấy trước, thì «&lt;i&gt;trời đại hạn đã nghĩ đến việc sắm thuyền, trời nóng nực đã nghĩ đến việc sắm áo bông&lt;/i&gt;»&lt;i&gt; &lt;/i&gt;rồi (xem Cổ học Tinh hoa, quyển 1, truyện 34). &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;T&lt;/b&gt;hế giới thay đổi quá nhanh, muốn thích ứng, cần phải dự đoán trước được những gì có thể xảy ra. Trong chính trường cũng như thương trường, khả năng tiên đoán được những gì sẽ xảy ra và những gì phải làm là yếu tố quyết định sự thành công. Chờ sự việc đã ngã ngũ và ai cũng nhìn thấy được thì đã quá muộn rồi! Vì muốn Giáo Hội thành công, tôi mơ ước Giáo Hội có được những cái nhìn tiên tri đi trước thời đại một chút, chứ không phải là những cái nhìn hậu kiến, quá muộn màng, luôn luôn lẽo đẽo đi sau các sự kiện đã rồi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;6. Giáo Hội lưu tâm tới bề trong hơn bề ngoài&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;G&lt;/b&gt;iáo Hội Việt Nam hiện nay vẫn còn là một Giáo Hội quan tâm tới bề ngoài hơn là bề trong, tới hình thức hơn là nội dung. Sự quan tâm của khá nhiều linh mục là xây dựng những ngôi nhà thờ nguy nga tráng lệ bằng đá, bằng gạch nhiều hơn là những ngôi nhà thờ bằng tinh thần ở trong tâm hồn của chính mình và của mỗi người. Nhiều cha xứ rất hài lòng khi thấy có đông giáo dân đến nhà thờ tham dự các lễ nghi, các bí tích, mà không hề thắc mắc là họ có thật sự gặp được Chúa hay không. Rõ ràng như 2 với 2 là 4 rằng lãnh nhận các bí tích là một chuyện, mà gặp gỡ Chúa lại là một chuyện khác:&lt;i&gt; &lt;/i&gt;biết bao người rước Chúa vào lòng mà có gặp được Chúa đâu! «&lt;i&gt;Linh mục nào thì giáo dân nấy&lt;/i&gt;»&lt;i&gt;, &lt;/i&gt;vì thế, người giáo dân Việt Nam ở nhiều nơi đi lễ rất đông, nhưng chất lượng của việc dâng lễ thì thật đáng nghi ngờ! &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;N&lt;/b&gt;ếu thật sự là người ta gặp được Chúa, thì tất yếu đời sống người ta phải thay đổi, phải sống chan hòa yêu thương hơn. Như vậy, nếu đời sống người ta không thay đổi, nếu theo đạo nhiều năm, đi lễ rước lễ hàng tuần hay hằng ngày mà đời sống chẳng thấy gì tốt đẹp hơn, thì rõ ràng là họ đã không gặp được Chúa qua các bí tích. Mà không gặp được Chúa – là mục đích – thì lãnh nhận các bí tích – vốn chỉ là phương tiện – có ích lợi gì? Đi xe mà không tới được đích, thì có gì hay hơn người đi bộ? Lúc ấy, những việc đạo đức không đạt đích ấy chỉ làm cớ để họ lên mặt với người khác, vì họ tưởng rằng năng làm những việc ấy thì đã là đạo đức hơn người rồi! Giữ đạo kiểu bì phu như thế thì đạo làm sao tồn tại được? &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;V&lt;/b&gt;ì thế, tôi mơ ước là từ hàng giáo sĩ cho tới giáo dân, khi giữ đạo thì quan tâm tới bề trong hơn bề ngoài, nội dung hơn hình thức, mục đích hơn phương tiện, và coi chính tâm hồn hay bản thân mình là nơi gặp Chúa thuận lợi nhất, hơn là gặp Chúa ở những nơi chốn bên ngoài (3*).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;7. Biết bao ước mơ khác nữa&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;T&lt;/b&gt;rên đây chỉ là một vài mơ ước căn bản của tôi về Giáo Hội để Giáo Hội tồn tại và phát triển tốt đẹp, càng ngày càng gần, càng giống Nước Trời hơn. Còn bao nhiêu ước mơ khác không thể trình bày đầy đủ trong khuôn khổ một bài báo, chẳng hạn ước mơ rằng:&lt;i&gt; &lt;/i&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; – Giáo Hội được tự do hành xử những quyền căn bản và chính đáng của mình trong xã hội và đất nước của mình,&lt;p&gt;&lt;/p&gt; – Giáo Hội sống tinh thần tự hủy, nghèo khó, khiêm nhường của Chúa Kitô, không tự coi mình là hơn tất cả,&lt;p&gt;&lt;/p&gt; – Mọi thành phần trong Giáo Hội thích phục vụ chứ không mong được người khác phục vụ, không ham quyền lực, và những hư danh trần tục. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; – Giáo Hội quan niệm thực tại có nhiều mặt, để thấy rằng có nhiều cách nhìn khác nhau, tuy mâu thuẫn nhau nhưng vẫn có thể cùng đúng cả, để từ đó bao dung và độ lượng hơn với những cách nhìn khác với cách nhìn của mình, &lt;p&gt;&lt;/p&gt; – Giáo Hội quan tâm tới những vấn đề xã hội nhiều hơn, &lt;p&gt;&lt;/p&gt; – Giáo Hội quan tâm tới người nghèo và bênh vực họ nhiều hơn, &lt;p&gt;&lt;/p&gt; – Giáo Hội quan tâm tới quyền lợi và cơ hội phát triển của phụ nữ trong Giáo Hội và xã hội hơn, &lt;p&gt;&lt;/p&gt; – Giáo Hội quan tâm tới việc đào tạo nên những tông đồ thật sự hơn là chỉ tạo nên những linh mục hay tu sĩ, &lt;p&gt;&lt;/p&gt; – Giáo Hội quan tâm tới tiếng nói của người giáo dân trong Giáo Hội hơn, tới việc nâng cao trình độ của người giáo dân hơn, &lt;p&gt;&lt;/p&gt; – Giáo Hội quan tâm tạo điều kiện và cơ hội bình đẳng cho mọi thành viên trong Giáo Hội được phát triển và tham gia xây dựng Giáo Hội, &lt;p&gt;&lt;/p&gt; – Giáo Hội quan tâm tới việc giảm bớt tinh thần cha chú, tinh thần giáo sĩ trị trong Giáo Hội, &lt;p&gt;&lt;/p&gt; – Giáo Hội quan tâm tới giới trẻ và thiếu nhi trong Giáo Hội hơn, &lt;p&gt;&lt;/p&gt; – v.v… &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;Ư&lt;/b&gt;ớc mơ là một sức mạnh rất lớn để đi đến hiện thực. Nó là động lực thúc đẩy ta hành động. Nếu tất cả mọi người trong một tập thể – như Giáo Hội, hay xã hội – đều cùng mơ một điều, thì chắc chắn 100% sớm muộn gì điều ấy cũng sẽ thành hiện thực. Vì thế, điều mơ ước cuối cùng của tôi là mơ rằng tất cả mọi người đều mơ cùng một điều như tôi. Đó là điều kiện tất yếu để những mơ ước ấy trở thành hiện thực. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; ______________________&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Phần chú thích&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; (1*)Jules Verne (1828-1905), văn sĩ Pháp, cha đẻ của khoa học viễn tưởng, tác giả của những tiểu thuyết viễn tưởng nổi tiếng như &lt;span style="font-style: italic;"&gt;Năm ngàn dậm dưới đáy biển &lt;/span&gt;(1863), C&lt;span style="font-style: italic;"&gt;uộc du hành vào lòng đất &lt;/span&gt;(1864), &lt;span style="font-style: italic;"&gt;Từ trái đất lên mặt trăng&lt;/span&gt; (1865), &lt;span style="font-style: italic;"&gt;Liên minh dưới đáy biển&lt;/span&gt; (1870), &lt;span style="font-style: italic;"&gt;Hải đảo huyền bí &lt;/span&gt;(1870), &lt;span style="font-style: italic;"&gt;Vòng quanh thế giới trong 80 ngày&lt;/span&gt; (1872).&lt;p&gt;&lt;/p&gt; (2*)«&lt;i&gt;Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em sống yêu thương&lt;/i&gt;» (Ga 13,35).&lt;p&gt;&lt;/p&gt; (3*)«&lt;i&gt;Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?... Đền thờ ấy chính là anh em&lt;/i&gt;» (1 Cr 3,16-17; Xem 1 Cr 6,19; 2 Cr 6,16; Ep 2,20-22). «&lt;i&gt;Thiên Chúa, Đấng tạo dựng vũ trụ và muôn loài trong đó, Đấng làm Chúa tể trời đất, không ngự trong những đền thờ do tay con người làm nên&lt;/i&gt;» (Cv 17,24; Xem Cv 7,28; Dt 9,11-12; Is 66,1-2).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-8641038751751911364?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/8641038751751911364'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/8641038751751911364'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/09/bayuocmocuatoivegiaohoi.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-5292858997425364018</id><published>2009-09-04T20:18:00.000-07:00</published><updated>2009-09-04T20:20:49.668-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;Tinh thần bao dung&lt;br /&gt;trong đời sống gia đình&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;Thiên Chúa tạo dựng vạn vật muôn màu muôn vẻ với tất cả sự phong phú và đa dạng, không cái nào giống cái nào. Trên đời không bao giờ có hai vật hoàn toàn giống nhau, thế nào chúng cũng phải có ít nhiều khác biệt : có thể rất ít mà cũng có thể rất nhiều.Sự khác biệt đó thật là tự nhiên, và chắc chắn nằm trong chương trình của Thiên Chúa. Nhờ sự khác biệt đó, vũ trụ vạn vật mới tươi đẹp, phong phú, rực rỡ. Nếu vạn vật chỉ có một loại duy nhất, cái nào cũng giống cái nào thì vũ trụ và thế giới này sẽ buồn thảm đơn điệu như thế nào ! &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Nơi con người cũng thế, không ai giống ai, từ khuôn mặt cho tới tính tình, từ thể xác tới tâm hồn, mỗi người một vẻ, mỗi vẻ mỗi khác. Tuy khác nhau, nhưng mỗi người đều có cái hay và cái dở riêng, không ai hoàn hảo cả. Người được cái này thì mất cái kia, người được cái kia thì lại mất cái này. Vì thế, để được cả cái này lẫn cái kia, người được cái này phải hợp với người được cái kia thì sự trọn vẹn cả để con người cần lẫn nhau, bổ túc lẫn nhau, có thế con người mới yêu thương nhau. Nếu ai cũng được đủ mọi mặt thì còn ai cần tới ai nữa, còn ai cần hợp tác với ai nữa, và tình yêu cũng khó phát sinh. Tình yêu phát sinh do sự khác biệt, có khác biệt mới thu hút lẫn nhau. Âm thu hút dương, dương hấp dẫn âm, còn âm với âm, dương với dương thì đẩy lẫn nhau. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Trong chương trình của Thiên Chúa, sự khác biệt và không hoàn hảo khiến người ta phải hợp lại với nhau thành gia đình, xã hội để bổ túc lẫn nhau mà tồn tại và phát triển.&lt;br /&gt;Không ai sống một mình mà đầy đủ được. Muốn tồn tại và phát triển ta phải nhờ tới biết bao người khác : Để hiện hữu ta phải nhờ cha mẹ, để có gạo ăn ta phải nhờ bác nông dân, để có áo mặc ta nhờ người dệt vải, để có sức khỏe phải nhờ bác sĩ...Sự khác biệt cần thiết và ích lợi như vậy. Nhưng cái lợi nào cũng có mặt trái của nó. Sự khác biệt cũng thế : hễ khác thì thường là khắc. Khắc là không hợp nhau, mâu thuẫn nhau, xung đột lẫn nhau. Mà hễ đã không hợp nhau, hễ có sự xung đột là phải có khó chịu, đau khổ. Đó là cái giá phải trả của sự khác biệt, của sự hợp tác, bổ túc lẫn nhau. Hễ giống nhau thì đâu bổ túc cho nhau được, có hợp tác với nhau cũng chẳng đi đến đâu. Không chấp nhận khó chịu, đau khổ do sự khác biệt gây ra thì chẳng xây dựng được gì cả. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Thật vậy, con diều bay lượn lơ lửng trên bầu trời được là nhờ hợp tác với sợi dây. Nhưng sự hợp tác đó không phải là không có đau khổ. Con diều cảm thấy thực là bực bội vì sợi dây: nó muốn bay cao hơn, xa hơn, mở rộng phạm vi hoạt động ra, nhưng sợi dây cứ cầm giữ nó lại một cách thật là nghiệt ngã. Còn sợi dây cũng bực bội không kém : nó muốn được tự do bay lơ lửng trên bầu trời một cách thoải mái để ngắm sông núi bên dưới, nhưng con diều lúc nào cũng lôi kéo nó đi hết chỗ này tới chỗ kia, nhiều lúc kéo căng quá làm nó như muốn đứt. Thật là khó ! không chịu đựng nổi nhau nữa, hai đứa quyết định chia tay, hy vọng đứa nào cũng sẽ được tự do theo ý mình trên bầu trời rộng thêng thang. Nhưng khi chia tay, sự việc đã không xảy ra như chúng mong ước mà tệ hại hơn trước rất nhiều. Tất cả đều rơi xuống đất ! Đó là kết quả của việc không chịu đựng nhau ! &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Cái lý hợp tác sống chung là như thế ! Không hợp tác, không sống chung thì không thể làm được việc gì. Hay chỉ hợp tác với những người giống mình thì cũng thế. Mà sống chung, hợp tác với nhau giữa những người khác nhau thì thật là khó chịu. Nhưng thà khó chịu, xung đột mà tồn tại còn hơn ! Vấn đề còn lại là làm sao để chấp nhận nhau, chấp nhận những đau khổ khó chịu do những khác biệt của nhau. Tinh thần chấp nhận đó chính là một khía cạnh của Lòng Bao Dung. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Gia đình chính là một nơi sống chung, nơi hợp tác của những đơn vị yêu thương nhau nhất trong xã hội. Nhưng dù có yêu thương nhau đến mấy, gia đình vẫn gồm những phần tử rất khác biệt nhau nên không thể không có những xung đột, khó chịu, thậm chí đau khổ. Càng vui lòng chấp nhận những khác biệt đau khổ đó thì gia đình càng dễ có hạnh phúc. Trái lại, gia đình sẽ trở thành hoả ngục trần gian ngay nếu các phần tử không muốn chấp nhận những phiền toái bực bội gây ra do sự khác biệt lẫn nhau. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Sự khác biệt nhau trong gia đình tuy gây ra nhiều xung khắc nhưng rất cần thiết. Vì thế, Thiên Chúa sinh ra vợ chồng có tâm lý khác biệt để bổ túc nhau. Chẳng hạn người chồng có cái nhìn tổng hợp bao quát, còn người vợ có cái nhìn phân tích chi li nhỏ nhặt. Gia đình tồn tại được, hạnh phúc được đều cần cả hai kiểu nhìn đó, mà một người thì không thể có được cả hai. Ý thức được như vậy, cả hai vợ chồng sẽ lắng nghe lập trường của nhau để có thể nhìn vấn đề một cách đầy đủ hơn, để hành động sáng suốt hơn. Sự sáng suốt thường không nằm ở một bên mà nằm ở giữa, tức là sự dung hoà giữa hai lập trường đối lập. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Vì thế, sự bao dung trong gia đình cũng như ngoài xã hội là điều hết sức cần thiết để gia đình, xã hội tồn tại và hạnh phúc. Người có lòng bao dung là người không những sẵn sàng đón nhận mà còn mong muốn dành chổ đứng và đất sống cho những tư tưởng hay lập trường khác với mình, để gia đình, xa hội, cũng như thế giới phù hợp với luật tự nhiên và chương trình của Thiên Chúa là muốn cho thế giới muôn hình muôn vẻ để cộng tác và yêu thương lẫn nhau. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-5292858997425364018?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/5292858997425364018'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/5292858997425364018'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/09/tinhthanbaodungtrongdoisonggiadinh.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-3325854917374325418</id><published>2009-08-06T20:20:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T20:24:27.159-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;TẠI SAO ĐỨC MARIA&lt;br /&gt;LÀ NGƯỜI «&lt;i&gt;ĐẸP LÒNG THIÊN CHÚA?&lt;/i&gt;»&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;b&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;Khi đọc kinh Mân Côi, chúng ta ca tụng Mẹ Maria là «&lt;i&gt;có phúc lạ hơn mọi người nữ&lt;/i&gt;». Nhân lễ Đức Mẹ Mân Côi, chúng ta cùng tìm hiểu lời kinh ấy: tại sao Mẹ lại có phúc như vậy? Chính thiên sứ truyền tin cho Mẹ đã cho biết: «&lt;i&gt;Vì bà đẹp lòng Thiên Chúa&lt;/i&gt;». Câu nói ấy lại khơi dậy trong ta một thắc mắc khác: tại sao Mẹ lại đẹp lòng Thiên Chúa? Chúng ta thử trả lời cho thắc mắc đó để rút ra một bài học cho cách sống của mình, để cuộc đời chúng ta cũng trở nên đẹp lòng Thiên Chúa như Mẹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;&lt;b&gt;1. Đức Maria là người «&lt;i&gt;đẹp lòng Thiên Chúa&lt;/i&gt;»&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đọc lịch sử của các dân tộc, ta thấy có nhiều thiếu nữ nghèo nàn, thuộc giai cấp thấp nhất trong xã hội, nhưng bỗng nhiên trở nên cao trọng thuộc loại nhất trong nước. Lý do: chỉ vì thiếu nữ ấy là người &lt;i&gt;đẹp lòng&lt;/i&gt; vua, được vua yêu thương đưa lên làm hoàng hậu, một chức vụ mà ngay cả tể tướng cũng phải kính nể. Thiếu nữ ấy &lt;i&gt;đẹp lòng&lt;/i&gt; nhà vua có thể vì sắc đẹp, vì tài năng, vì đức độ, hoặc vì tất cả những thứ ấy hợp lại, tùy theo tính khí và cách suy nghĩ của từng ông vua.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trường hợp của Đức Maria có phần nào tương tự. Mẹ được chọn làm Mẹ của Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa. Vì thế, Mẹ trở nên hết sức cao trọng trước mặt Thiên Chúa và loài người, nên Mẹ được sứ thần kính cẩn chào với tư cách «&lt;i&gt;Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà&lt;/i&gt;». Lý do khiến Mẹ được như thế đã được sứ thần cho biết: «&lt;i&gt;Vì bà đẹp lòng Thiên Chúa&lt;/i&gt;». Một vấn đề thiết tưỏng rất ích lợi cho chúng ta là xét xem Mẹ Maria «&lt;i&gt;đẹp lòng Thiên Chúa&lt;/i&gt;» chủ yếu ở điểm nào. Và đó chính là những điểm chúng ta cần bắt chước. Bắt chước Mẹ ở điểm ấy không phải để được trở nên cao trọng giống như Mẹ, vì khi ta vừa nhắm mục đích ấy thì lập tức ta đã khác biệt với Mẹ một trời một vực rồi, và ta đã trở nên không đẹp lòng Thiên Chúa ngay từ mục đích ấy rồi. Chính vì Mẹ không hề mong muốn mình trở nên cao trọng, nên Mẹ mới «&lt;i&gt;đẹp lòng Thiên Chúa&lt;/i&gt;», và bởi thế mà trở nên cao trọng. Vì Thiên Chúa vẫn hành động theo kiểu: «&lt;i&gt;Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường&lt;/i&gt;» (Lc 1,51-52).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu đặt việc «&lt;i&gt;đẹp lòng Thiên Chúa&lt;/i&gt;» làm mục đích, thì kết quả là bình an, hạnh phúc, cao trọng tự nhiên sẽ tới. Nhưng nếu lấy chính hạnh phúc hay việc trở nên cao trọng của mình làm mục đích, thì mục đích ấy sẽ không đạt được, mà có thể còn bị phản nghịch lại. Đúng như Đức Giêsu đã nói: «&lt;i&gt;Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời&lt;/i&gt;» (Ga 12,25). Như thế, mục đích phải là Thiên Chúa thì kết quả mới là hạnh phúc của bản thân ta. Còn nếu mục đích là chính bản thân ta, thì kết quả không còn là bản thân ta nữa, mà lại là một cái gì phản lại ta. Đó là qui luật ta cần nắm vững. Trong chiều hướng này, Đức Giêsu cũng khuyên ta: «&lt;i&gt;Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho&lt;/i&gt;» (Mt 6,33). «&lt;i&gt;Những thứ kia&lt;/i&gt;» bao gồm tất cả những gì tốt đẹp liên quan đến ta, nó sẽ đến sau như kết quả tất yếu của việc «&lt;i&gt;tìm kiếm Nước Thiên Chúa&lt;/i&gt;» mà ta phải đặt làm mục đích. Nó chỉ có thể là kết quả chứ không thể là mục đích.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;&lt;b&gt;2. Coi bản thân mình là mục đích,&lt;br /&gt;xem Thiên Chúa và tha nhân là phương tiện,&lt;br /&gt;là nguồn gốc mọi tội lỗi và sự dữ&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Theo truyền thống Kitô giáo, Luxiphe (Lucifer) – có nghĩa: mang ánh sáng – là một phẩm vị thiên thần tốt đẹp nhất, đáng yêu nhất, quyền thế nhất, hơn tất cả các phẩm vị thiên thần khác trên thiên đàng. Nếu thế, ắt hẳn ông ta phải có rất nhiều nhân đức. Và đương nhiên mọi nhân đức đều có giá trị và đều làm đẹp lòng Thiên Chúa. Nhưng cuối cùng thiên thần này đã trở thành ma quỉ, thành nguyên lý xấu ác vượt trên mọi xấu ác, và thành nguồn gốc phát sinh mọi điều xấu ác và đau khổ. Lý do: ông đã coi «&lt;i&gt;cái tôi&lt;/i&gt;» của ông quá lớn, ông đặt bản thân mình lên trên Thiên Chúa, coi Thiên Chúa là phương tiện, còn bản thân mình là mục đích. Tật xấu này là căn bản của mọi tật xấu, và làm cho mọi nhân đức mình đang có trở nên vô giá trị. Ađam và Eva cũng vậy, đã đánh mất hạnh phúc của mình và của con cháu cũng vì đặt quyền lợi bản thân mình cao hơn cả Thiên Chúa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thiên Chúa không phải là Đấng ích kỷ và cao ngạo, không muốn con cái hay tạo vật của mình lên cao bằng mình. Cha mẹ luôn luôn mong muốn cho con cái hơn mình, vì «&lt;i&gt;con hơn cha là nhà có phúc&lt;/i&gt;». Thiên Chúa không hề kém quảng đại và khoáng đạt hơn các bậc cha mẹ thế gian. Mọi kiểu giải thích Kinh Thánh cho rằng chỉ vì Luxiphe và con người muốn bằng Thiên Chúa, nên đã bị Thiên Chúa chúc dữ. Giải thích như thế thì rõ ràng là đi ngược lại với kinh nghiệm bản thân của các bậc cha mẹ là luôn luôn mong cho con cái hơn mình. Giải thích như thế là coi Thiên Chúa cao ngạo, quá vị kỷ và đặt nặng «&lt;i&gt;cái tôi&lt;/i&gt;» của mình hơn các bậc cha mẹ ở trần gian. Giải thích Kinh Thánh như thế một cách nào đó là hạ thấp phẩm chất của Thiên Chúa! Đức Giêsu đã từng khuyên chúng ta: «&lt;i&gt;Anh em hãy nên hoàn thiện, &lt;b&gt;như&lt;/b&gt; Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện&lt;/i&gt;» (Mt 5,48) Chữ «&lt;i&gt;như&lt;/i&gt;» ở đây ngoài ý nghĩa là coi Ngài là gương mẫu để bắt chước, còn có nghĩa là giống, bằng, ngang với. Thiết tưởng ai mong muốn nên hoàn thiện bằng Thiên Chúa, không phải vì muốn đề cao mình, mà muốn sống đúng phẩm giá Thiên Chúa ban cho mình, là một điều đáng khen, và chắc chắn sẽ được Thiên Chúa chúc phúc. Chính Thiên Chúa không hề đặt nặng «&lt;i&gt;cái tôi&lt;/i&gt;» của Ngài, điều đó được phản ảnh trung thực qua bản thân và đời sống Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa, Đấng đã sống tinh thần tự hủy, nghĩa là coi nhẹ «&lt;i&gt;cái tôi&lt;/i&gt;», đến tận cùng (x. Pl 2,6-8).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tội của Luxiphe và tổ tông con người là đã coi «&lt;i&gt;cái tôi&lt;/i&gt;» của mình quá quan trọng, quá lớn, tự biến mình thành mục đích và coi Thiên Chúa cũng như tha nhân chỉ là phương tiện.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;&lt;b&gt;3. Điều làm Mẹ đẹp lòng Thiên Chúa nhất&lt;br /&gt;chính là Mẹ đã từ bỏ «&lt;i&gt;cái tôi&lt;/i&gt;» của mình trước Thiên Chúa&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Nếu coi «&lt;i&gt;cái tôi&lt;/i&gt;» của mình như mục đích, coi Thiên Chúa hay tha nhân như phương tiện là điều làm mất lòng Thiên Chúa nhất và là nguồn gốc phát sinh mọi tội lỗi, thì trái lại, tinh thần tự hủy hay từ bỏ «&lt;i&gt;cái tôi&lt;/i&gt;» là điều làm đẹp lòng Thiên Chúa nhất, và là nguồn phát sinh an vui và hạnh phúc. Thiết tưởng đây chính là nền tảng căn bản nhất của tình yêu, của sự thánh thiện, của mọi nhân đức. Có đầy đủ mọi nhân đức khác, mà thiếu tinh thần căn bản này, thì mọi nhân đức ấy đều không có nền tảng giá trị.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau Đức Giêsu, thì Đức Maria chính là mẫu gương sáng giá nhất về tinh thần tự hủy. Rất nhiều phụ nữ Do Thái đồng thời với Mẹ mong ước được làm mẹ của Đấng Thiên Sai mà các ngôn sứ hứa, để hưởng sự giàu sang và vinh quang tột bậc cho mình. Còn Đức Maria thì không hề mong muốn gì cho bản thân mình, Mẹ chỉ nghĩ tới vinh quang của Thiên Chúa và hạnh phúc của tha nhân. Mẹ muốn mình trở nên một công cụ để thực hiện mục đích vị tha ấy. Theo truyền thống Công giáo, Mẹ muốn hiến cuộc đời mình để phụng sự Thiên Chúa, không tưởng nghĩ đến hạnh phúc riêng của mình, cụ thể như chuyện vợ chồng. Việc đính hôn với Giuse chỉ là một cách khôn ngoan trước mặt người đời để cả hai có thể thực hiện lý tưởng ấy. Vì thế, khi được sứ thần cho biết ý định của Thiên Chúa, Mẹ đã thắc mắc ngay: «&lt;i&gt;Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!&lt;/i&gt;». Mặc dù đang bị thu hút bởi lý tưởng ấy, nhưng khi biết được thánh ý Thiên Chúa muốn mình đi theo con đường khác, thì Mẹ sẵn sàng dẹp bỏ ngay ý riêng của mình để trả lời: «&lt;i&gt;Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói&lt;/i&gt;».&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vậy, muốn đẹp lòng Thiên Chúa, điều quan trọng là chúng ta phải từ bỏ «&lt;i&gt;cái tôi&lt;/i&gt;» của mình trước Thiên Chúa và tha nhân. Đó cũng là điều kiện quan trọng nhất để chúng ta có thể thật sự yêu Thiên Chúa và thương tha nhân cách đúng nghĩa và đẹp lòng Thiên Chúa nhất.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-3325854917374325418?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/3325854917374325418'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/3325854917374325418'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/taisaomariadeplongthienchua.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-8125030281868414569</id><published>2009-08-06T20:17:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T20:20:08.804-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;MẸ MARIA XỨNG ĐÁNG&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;ĐƯỢC ĐƯA HỒN XÁC VỀ TRỜI &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;1. Đức Maria đã được Thiên Chúa&lt;br /&gt;thưởng hạnh phúc vĩnh cửu cả hồn lẫn xác&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đức Maria là Mẹ của Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế, cũng là người đồng lao cộng khổ nhiều nhất với Đức Giêsu trong công cuộc cứu thế. Ngoài ra, Mẹ còn là người duy nhất trên trần gian được ơn vô nhiễm nguyên tội, cũng là người luôn luôn tuân theo thánh ý Chúa Cha trên trời cách gương mẫu nhất. Vì thế, theo niềm tin của Giáo Hội, Thiên Chúa đã ân thưởng Đức Maria một cách đặc biệt và duy nhất: được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với cả hồn lẫn xác, được đưa về Thiên Đàng trọn vẹn cả con người trần thế. Tất cả những vị thánh khác trên thiên đàng chỉ có hồn mà không có xác, vì xác bị mục nát như bao thứ vật chất khác. Các ngài chỉ được như Đức Maria vào ngày tận thế khi xác của tất cả mọi người đều được sống lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;2. Bởi đâu Đức Maria được diễm phúc như thế? &lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Kho tàng ca dao tục ngữ Việt Namcó những câu như: «&lt;i&gt;Công Cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra&lt;/i&gt;», «&lt;i&gt;Công cha to như núi, công mẹ chẳng khác non&lt;/i&gt;». Xét về mặt nhân bản, công lao của Đức Maria đối với Đức Giêsu thật hết sức lớn lao. Để sinh ra Đức Giêsu, Đức Mẹ đã hy sinh ý riêng của mình là muốn sống đời đồng trinh để phụng sự Thiên Chúa. Khi đồng ý mang thai Đức Giêsu, Mẹ đã sẵn sàng chịu biết bao tai tiếng, hiểu lầm, kể cả của Giuse nếu có. Một sự chấp nhận rất to lớn! Lúc chuẩn bị sinh Đức Giêsu, Mẹ đã chịu biết bao khổ cực: đến ngày sinh rồi mà lại phải rời nhà, rời nơi sinh sống, di tản từ bắc vào nam khoảng 150 km, băng qua vùng miền Trung Do Thái đầy đồi núi. Khi sinh Đức Giêsu, Mẹ phải chấp nhận tủi nhục: sinh con của mình tại chuồng súc vật, thiếu thốn trăm bề. Mẹ vừa tủi cho mình, vừa tủi cho con. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Cuộc đời của Mẹ – từ khi có Đức Giêsu – đã phải gặp biết bao đau khổ, lo lắng, sợ hãi, mất ăn mất ngủ: &lt;p&gt;&lt;/p&gt; – được Simêon tiên báo con mình sẽ bị người đời chống đối, còn chính mình sẽ rất đau khổ như bị «&lt;i&gt;một lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn&lt;/i&gt;»  (Lc 2,34-35). &lt;p&gt;&lt;/p&gt; – bị lạc mất con suốt ba ngày, lòng đầy lo âu và phiền muộn. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; – thấy con mình bị giáo quyền hiểu lầm, chống đối và mưu toan hãm hại, đúng như lời ông Simêon nói xưa. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; – thấy con bị bắt, bị án tử hình, bị giết cách oan ức, nhục nhã, thảm thiết. Nhất là lúc đứng dưới chân thánh giá, lúc ôm xác con khi hạ xác xuống, lúc an táng và mấy ngày sau đó. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Cuộc đời của Mẹ đầy tủi nhục đau thương, tất cả chỉ vì vâng theo thánh ý Thiên Chúa. Chính vì thế, Mẹ rất đáng được thưởng, vì công càng lớn bao nhiêu, càng đáng được thưởng bấy nhiêu. Nhất là khi Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa rất công bằng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;3. Đức Maria rất xứng đáng được hưởng ơn hồn xác lên trời&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Lẽ thường của đạo làm người là: «&lt;i&gt;Công đức sinh thành, làm con phải hiếu&lt;/i&gt;», «&lt;i&gt;Trai thời trung hiếu làm đầu&lt;/i&gt;». Phật cũng dạy: «&lt;i&gt;Hiếu là hạnh đứng đầu muôn hạnh&lt;/i&gt;». Nhất là chính Thiên Chúa cũng ra điều răn cho con người: «&lt;i&gt;Thứ bốn, thảo kính cha mẹ&lt;/i&gt;». Do đó, Đức Giêsu – vốn là gương mẫu của nhân loại – tất phải là người hoàn hảo nhất trong đức hiếu thảo với cha mẹ. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Vậy Ngài phải làm gì cho thật xứng đáng là con hiếu thảo đối với một người mẹ hết sức thánh thiện đã chịu cực khổ vì mình dường ấy? Nhất là xét về mặt thể chất, trong trường hợp đặc biệt của Đức Giêsu, thịt máu của mình cũng hoàn toàn là do thịt máu của mẹ mình làm ra? &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Nếu Đức Giêsu đã hoàn toàn hồn xác ở trên trời, lẽ nào Ngài lại để cho xác thịt Mẹ mình bị hư nát? Nhất là khi Mẹ không bị tội lỗi thống trị, kể cả từ khi còn được cưu mang trong lòng mẹ? Nếu sự chết và sự hư nát của thân xác chỉ là do tội lỗi, thì làm sao Mẹ Maria lại phải chịu cảnh thân xác hư nát khi chính Mẹ không hề nhiễm tội lỗi? Nếu Mẹ là trường hợp duy nhất ở trần gian hoàn toàn thoát khỏi tội lỗi, thì Mẹ cũng xứng đáng được ân thưởng một cách duy nhất trên thiên đàng, là được vào đó cả hồn lẫn xác như Đức Giêsu, con mình.&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt; 4. Bài học khiêm nhường của Đức Maria&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Bài Tin Mừng hôm nay cũng cho thấy một phong cách của Đức Maria: rất khiêm nhượng. Mẹ luôn luôn nhìn nhận mình chỉ là một tôi tớ hèn mọn của Thiên Chúa, một nữ tỳ của Ngài. Đức Giêsu đã tự hủy mình ra không, còn Đức Maria coi mình không là gì cả trước mặt Thiên Chúa, nhưng coi Thiên Chúa là tất cả. Nếu Đức Giêsu vì tự hủy đến độ chết trên thập giá nên Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài đến tột cùng, thì một cách tương tự, vì Mẹ Maria đã khiêm nhường đến tột cùng nên Thiên Chúa cũng làm cho Mẹ được tôn vinh đến cùng tột. Đó là cách hành động của Thiên Chúa: &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; «&lt;i&gt;Từ đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người. Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế. Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư, người giàu có, lại đuổi về tay trắng&lt;/i&gt;». &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Như vậy, khiêm nhường, tự hủy để kính sợ Thiên Chúa và yêu thương tha nhân, đó chính là cách để chúng ta trở nên đẹp lòng Thiên Chúa và đạt được vinh quang và hạnh phúc bất diệt. Đó cũng chính là cách Đức Maria đã dùng và nhờ đó đã được Thiên Chúa tôn vinh cho cả hồn xác lên trời. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-8125030281868414569?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/8125030281868414569'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/8125030281868414569'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/memariaxungdanghonxacvetroi.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-9203673380540178031</id><published>2009-08-06T20:12:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T20:15:39.540-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;Đức Maria, một tâm hồn trong sạch&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;1. Đức Maria vô nhiễm nguyên tội&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Đức Maria được một ơn hết sức đặc biệt hầu xứng đáng làm Mẹ của đấng Cứu Thế, đó là ơn không mắc tội tổ tông. Trong nhân loại, nghĩa là trong tất cả đám con cháu Ađam và Eva, ngoài Đức Giêsu vốn cũng là Thiên Chúa ra, thì chỉ duy nhất một mình Đức Maria được ơn ấy. Chúng ta biết được điều ấy qua giáo huấn của Giáo Hội. Giáo huấn ấy đã được chính Đức Maria xác nhận khi hiện ra nhiều lần với cô Becnađét tại Lộ Đức (Pháp) năm 1858. Tuy nhiên, Đức Maria vẫn là con người, vẫn phải chịu những đau khổ, lo lắng, sợ sệt và cũng bị cám dỗ y như chúng ta. Nếu có khác thì chỉ khác chúng ta ở chỗ Ngài không bao giờ phạm tội mà thôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;2. Tâm hồn trong sạch, một vẻ đẹp trước mặt Thiên Chúa&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Việc Thiên Chúa gìn giữ Đức Maria không mắc tội tổ tông cho thấy Thiên Chúa rất yêu quí sự trong sạch tâm linh, nghĩa là không bị nhơ bẩn vì tội lỗi, không bị thần ô uế thống trị, không nhượng bộ trước sự ác. Vì thế, để có giá trị trước mặt Thiên Chúa, chúng ta cần giữ tâm hồn mình cho trong sạch. Chúng ta tuy không được ân đặc biệt như Đức Maria là không mắc tội tổ tông, nhưng chúng ta đã được rửa tội để xóa bỏ tội ấy. Vấn đề còn lại là chúng ta hãy cố giữ tâm hồn cho trong sạch, không phạm tội trong tư tưởng, lời nói cũng như việc làm, và cả những tội thiếu sót, do không làm những việc mà lương tâm buộc phải làm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để giữ cho tâm hồn trong sạch không vướng mắc những tội riêng, Mẹ Maria cũng phải cố gắng thắng lướt những cơn cám dỗ, những khuynh hướng tự nhiên có thể lôi kéo con người xa Thiên Chúa. Chẳng hạn khi phải chọn lựa giữa hai điều tốt, bản tính tự nhiên của con người có khuynh hướng chọn lựa điều có lợi cho mình hơn, điều đỡ vất vả khổ cực hơn, điều đỡ gây thiệt hại hơn, thay vì phải chọn lựa điều tốt hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;3 .Làm sao giữ được tâm hồn trong sạch&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Nếu ta hiểu được tội lỗi là gì, thì ta sẽ hiểu ngay được cách gìn giữ tâm hồn trong sạch, không vướng mắc tội lỗi. Tội lỗi là một cái gì đi ngược lại bản chất của Thiên Chúa, mà bản chất của Thiên Chúa là Tình Yêu(xem 1Ga 4,7-8). Do đó, khi nào chúng ta có tình yêu của Thiên Chúa trong tâm hồn, nghĩa là ta thật sự yêu mến Thiên Chúa và tha nhân, và sẵn sàng hành động theo sự đòi hỏi của tình yêu ấy, thì tâm hồn ta được kể là trong sạch trước mặt Thiên Chúa. Ngược lại, nếu chúng ta không có tình yêu, chúng ta ích kỷ, đặt nặng cái tôi của mình, thì tâm hồn ta đã có khuynh hướng tội lỗi, và lúc nào sẵn sàng làm điều tội lỗi. Hễ có tình yêu đích thực – nghĩa là yêu Thiên Chúa và tha nhân – thì hành động nào do tình yêu đó thúc đẩy cũng đẹp lòng Thiên Chúa. Vì thế, thánh ÂuTinh nói: &lt;i&gt;"Cứ yêu đi đã rồi muốn làm gì thì làm"&lt;/i&gt; (Ama et fac quod vis).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tâm hồn của Đức Maria luôn luôn trong sạch vì Mẹ luôn luôn yêu mến Thiên Chúa và dành trọn tình yêu cho Thiên Chúa. Người yêu Chúa thật lòng như Mẹ thì không thể phạm tội được. Vậy để giữ tâm hồn mình trong sạch, không gì tích cực và bảo đảm bằng việc củng cố tình yêu của mình đối với Thiên Chúa và tha nhân. Và đã là tình yêu đích thực thì nó luôn luôn tự biểu lộ thành hành động.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-9203673380540178031?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/9203673380540178031'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/9203673380540178031'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/ducmariamottamhontrongsach.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-5658761953116581704</id><published>2009-08-06T20:06:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T20:11:18.156-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;NUÔI DẠY CON CÁI&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Để xây dựng thế giới, Giáo Hội, Nước Trời &lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Thiên Chúa nói với tổ tông loài người:  “&lt;i&gt;Hãy sinh sản cho đầy mặt đất&lt;/i&gt;”  (St 1,23). Lời Chúa truyền ngày xưa nhân loại chúng ta đã tương đối hoàn thành. Hiện nay, số lượng người đã trở nên viên mãn, khiến người ta phải nghĩ tới việc hạn chế hay kế hoạch hóa sinh sản. Nhưng đó mới chỉ là bổn phận về số lượng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Còn bổn phận về chất lượng thì sao? Chúa nói :  “&lt;i&gt;Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ... dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em&lt;/i&gt;”(Mt 28,19-20). Bổn phận này chúng ta còn thiếu xót nhiều lắm. Chất lượng của nhân loại quả rất đáng lo ngại. Thế giới hiện nay đang bị đảo điên, đau khổ vì tội lỗi, chiến tranh, bất công, bạo hành, người bóc lột người, nạn đói, nạn mù chữ, mãi dâm, ma túy, buôn bán trẻ em, v.v... Tội lỗi, chiến tranh, bất hòa, ghen ghét, hận thù đã đi vào thế giới ngay từ khi xuất hiện những con người đầu tiên : Ađam, Evà, Cain, Abel... Và chất lượng của thế giới từ xa xưa đến giờ vẫn chưa tiến triển được bao nhiêu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhiều khi chúng ta than phiền về thế giới, về những người đang điều hành thế giới này. Nhưng ít khi chúng ta ý thức rằng : Gia đình của chúng ta là một &lt;i&gt;“thế giới nhỏ”&lt;/i&gt;. ảnh hưởng và phản ảnh lẫn nhau. Thế giới-lớn và nhỏ -Hai thế giới này thay đổi thì thế giới kia cũng sẽ thay đổi. Là cha mẹ, chúng ta đang làm chủ, đang điều hành cái thế giới nhỏ bé là gia đình của chúng ta. Nếu chúng ta không làm cho cái thế giới nhỏ bé mà chúng ta đang làm chủ ấy trở nên tốt đẹp hơn, nếu trong cái thế giới nhỏ bé của chúng ta vẫn còn có những điều không tốt đẹp, những điều xấu, thì chúng ta không có quyền than phiền về thế giới, hay trách cứ những người đang điều hành thế giới. Vì chính chúng ta cũng phải chia sẻ trách nhiệm với họ, khi chúng ta không làm cho thế giới nhỏ bé của chúng ta tốt đẹp, hạnh phúc, hòa bình hơn. Do đó, chúng ta phải xây dựng thế giới bắt đầu từ chính gia đình của chúng ta.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Là người Kitô hữu, chúng ta không chỉ có bổn phận xây dựng thế giới, mà còn xây dựng Giáo Hội và Nước Trời, trong hiện tại và tương lai, nghĩa là làm sao để Chúa Kitô thống trị thế giới và mọi tâm hồn. Cách tốt nhất và căn bản nhất vẫn là bắt đầu từ chính gia đình của chúng ta. Vì gia đình chính là một &lt;i&gt;“giáo hội nhỏ”&lt;/i&gt; mà chúng ta có bổn phận phải biến thành một &lt;i&gt;“Nước Trời nhỏ”&lt;/i&gt;, trong đó, có tình yêu ngự trị, và mọi sự đều tốt đẹp. Chúng ta phải Phúc Âm hóa gia đình của chúng ta, làm sao để mọi người trong gia đình chúng ta sống tốt đẹp, yên vui, hạnh phúc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/i&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;... hãy nuôi dạy con cái cho tốt đẹp&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đi vào cụ thể, để góp phần xây dựng thế giới, Giáo Hội, các bậc cha mẹ phải sống tốt đẹp, phải hoàn thiện bản thân, đồng thời làm cho con cái mình cũng sống tốt đẹp và hoàn thiện hơn. Trong hai việc đó, nuôi dạy con cái là việc hết sức quan trọng và có rất nhiều khó khăn, đòi hỏi các bậc cha mẹ không những phải đầy thiện chí mà còn phải đầy khôn ngoan, không những phải chính mình sống tốt đẹp làm gương mà còn phải giỏi nghệ thuật nuôi dạy con nữa. Sau đây là một vài điểm cần thiết để việc nuôi dạy con thành công.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;1. Hãy cầu nguyện, phó thác, và vững tin vào Chúa&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Chúng ta có bổn phận phải nuôi dạy con cái, nhưng kết quả công việc đó không hoàn toàn tùy thuộc vào nỗ lực của chúng ta, mà còn tùy thuộc ở Thiên Chúa nữa. Chúng ta chỉ giống như người trồng cây, tưới, bón phân, chăm sóc cây... nhưng chỉ Thiên Chúa mới làm cho cây lớn lên (x. 1 Cr 3,6-7). Vì thế, để nuôi dạy con cái cho kết quả, chúng ta cần cầu nguyện, phó thác và vững tin vào Chúa. Không có Ngài, chúng ta không làm được việc gì (x. Ga 15,5b). Chúng ta đừng quá cậy dựa vào sức mình, vào khả năng dạy dỗ của mình. Nhiều khi chúng ta đem hết tâm hồn và nỗ lực ra để khuyên lơn, dạy điều hay lẽ phải cho con cái, nhưng chúng vẫn chứng nào tật nấy. Tại sao ? Vì ý chí của con người đã bị tội lỗi làm cho yếu đuối. Ai trong chúng ta cũng đều cảm nghiệm được sự yếu đuối ấy như thánh Phaolô đã diễn tả :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“&lt;i&gt;Điều tôi muốn thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại cứ làm... Muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn thì tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì không còn phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi&lt;/i&gt;”(Rm 7,15.18b-20). Con cái chúng ta cũng yếu đuối như chúng ta, chúng rất hiểu những gì là tốt đẹp phải làm, những gì là xấu xa phải tránh, nhưng cũng như chúng ta, chúng không làm nổi, không tránh nổi. Và theo thánh Phaolô, Đức Kitô chính là người có thể giải thoát chúng ta và con cái chúng ta khỏi sự yếu đuối ấy : “&lt;i&gt;Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này ? Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta&lt;/i&gt;” (Rm 7,24-25). Vì thế, trong việc nuôi dạy con cái, chúng ta phải nhờ cậy vào Đức Kitô rất nhiều. Không có sự giúp đỡ và thêm sức của Ngài, việc dạy dỗ của chúng ta sẽ thất bại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thêm vào đó, không phải chúng ta như thế nào, hay muốn con cái chúng ta như thế nào thì chúng sẽ ra như thế ấy. Tục ngữ có câu : &lt;b&gt;“&lt;i&gt;Cha mẹ sinh con, trời sinh tính&lt;/i&gt;”&lt;/b&gt;. Hãy xem lại chuyện cổ : Lưu Bị, Quang Trung... cha mẹ đều là những bậc anh hùng cái thế, luôn cố công dạy dỗ con cái với đủ mọi phương tiện trong tay, thế mà con cái chả ra làm sao : bố anh hùng mà con thì hèn nhát ! Nhiều người dạy dỗ con cái người khác thì thành công, nhưng dạy dỗ con mình thì thất bại : &lt;b&gt;“&lt;i&gt;Dao sắc không gọt được chuôi&lt;/i&gt;”&lt;/b&gt;. Vì thế, chúng ta đừng chỉ cậy vào khả năng dạy dỗ của mình, mà hãy trông cậy vào Thiên Chúa, bằng cầu nguyện, hy sinh, hãm mình, và vững tin. Cũng đừng bao giờ thất vọng khi thấy con cái không được như ý mình. Còn ai đáng thất vọng về con cái hơn bà thánh Monica, thế mà nhờ cầu nguyện, hy sinh, hãm mình và vững tin, con của bà cho dù hết sức tội lỗi, đã trở về với Chúa, không những thế, còn trở nên một giám mục, và hơn nữa, một vị thánh, là thánh Âu-Tinh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;2. Hãy giúp con cái sống đời Kitô hữu tốt đẹp&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lệnh truyền của Chúa  “&lt;i&gt;Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ... dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em&lt;/i&gt;”  (Mt 28,19-20) phải được áp dụng trước tiên trong gia đình. Trước khi Phúc Âm hóa xã hội, thế giới, ta hãy Phúc Âm hóa chính mình và gia đình mình đã. Hãy biến con cái của chúng ta thành những Kitô hữu tốt. Làm sao để chúng thật sự tin, yêu và dấn thân theo Chúa. Khi chúng thật sự tin và yêu Chúa, việc giáo dục chúng coi như đã thành công.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì thế, phải làm sao để đời sống tâm linh của chúng đi vào chiều sâu, nghĩa là có tương quan thân thiện với Chúa, có đời sống cầu nguyện, biết hy sinh bản thân cho Chúa và tha nhân. Hãy tập cho chúng ngay từ hồi còn nhỏ có thói quen đọc Kinh Thánh, và bày tỏ với Chúa những tư tưởng, tâm tình có trong đầu. Tất cả những việc đó là thức ăn cần thiết cho đời sống tâm linh của chúng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những cha mẹ nào có đời sống tâm linh vững vàng sẽ cảm thấy dễ dàng hơn trong việc đào luyện đời sống tâm linh cho con cái. Thật vậy, người ta chỉ có thể cho đi những gì người ta có, và không thể cho những gì người ta không có. Vì thế, muốn con cái có đời sống nội tâm sâu xa, thì chính cha mẹ phải có trước đã. Khi con cái đã có tương quan thân thiện với Thiên Chúa rồi, thì việc giáo dục chúng trở nên nhẹ nhàng, vì không phải ta giáo dục chúng, mà chính Thiên Chúa giáo dục chúng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;3. Hãy biểu lộ tình thương cho con cái&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Con người luôn luôn cần tình thương. Không tình thương, con người không thể sống và phát triển được. Con cái chúng ta cũng thế. Tình thương chính là thức ăn, là cơm bánh chúng phải dùng hàng ngày để có thể phát triển bình thường về tâm linh, tâm ý, để có thể trở nên tốt lành, xả kỷ, vị tha... Những đứa trẻ không cảm nhận được tình thương của cha mẹ thường dễ trở nên ích kỷ, khó thương và khó dạy. Các bậc cha mẹ tuy rất yêu thương con, nhưng lại hay ngại tỏ ra cho chúng thấy, cứ sợ chúng ỷ lại, nhõng nhẽo, mà không nhìn thấy tai hại của việc ấy. Nhiều đứa trẻ than phiền với chúng bạn, hay với hàng xóm rằng cha mẹ không hiểu và không yêu thương chúng. Ý nghĩ đó khiến tâm hồn chúng càng ngày càng trở nên cằn cỗi, chua cay, co mình lại, và tệ hại nhất là chúng không thể tin tưởng vào tình yêu của Thiên Chúa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thật vậy, đối với con cái, cha mẹ là hình ảnh cụ thể nhất của Thiên Chúa, và tình yêu của cha mẹ là hình ảnh cụ thể nhất của tình yêu Thiên Chúa. Chính qua tình thương của cha mẹ mà con cái hiểu và cảm nghiệm được tình yêu thương của Thiên Chúa. Có điều gì chúng ta cảm nhận được về Thiên Chúa mà không xuất phát từ những kinh nghiệm cụ thể đâu ? Vì thế, muốn con cái mình cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa, để đáp lại tình yêu của Ngài, để sẵn sàng hiến thân cho Ngài, trước hết chúng ta phải làm sao để chúng cảm nghiệm được chính tình thương của chúng ta, rồi mới nói về tình yêu của Thiên Chúa sau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;4. Không những “&lt;/span&gt;&lt;i style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;dạy&lt;/i&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;” mà còn phải “&lt;/span&gt;&lt;i style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;dỗ&lt;/i&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;”&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Như đã nói trên, con cái của chúng ta cũng gặp tình trạng yếu đuối như chúng ta: &lt;b&gt;“&lt;i&gt;Điều tôi muốn thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại cứ làm...&lt;/i&gt;”&lt;/b&gt;. Chúng cũng cần một sức mạnh bên ngoài nào đó tác động vào trợ giúp cho ý chí yếu đuối của chúng. Và không có sự trợ giúp nào hữu hiệu, vô hại và hữu ích cho bằng tình thương, được biểu lộ qua sự dỗ dành. Tiếng Việt của chúng ta thường ghép hai từ &lt;b&gt;“&lt;i&gt;dạy&lt;/i&gt;”&lt;/b&gt; và &lt;b&gt;“&lt;i&gt;dỗ&lt;/i&gt;”&lt;/b&gt; lại với nhau : &lt;b&gt;“&lt;i&gt;dạy dỗ&lt;/i&gt;”&lt;/b&gt; . Muốn dạy thì phải dỗ, không dỗ không dạy được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thật vậy, cổ nhân nói : &lt;b&gt;“&lt;i&gt;Giáo đa thành oán&lt;/i&gt;”&lt;/b&gt;. Dạy nhiều, nói nhiều, răn đe nhiều, roi vọt nhiều mà không biết khéo léo dỗ dành, con cái của chúng ta sẽ khó chịu với những lời dạy đó, thậm chí chúng không thèm nghe nữa. Khi ta dạy nhiều quá, chúng có thể im lặng mà không lắng nghe, và có thể bỏ ngoài tai tất cả. “&lt;i&gt;Dỗ&lt;/i&gt;” bao hàm nhiều nghĩa : có thể là vỗ về, an ủi, dẫn dụ, có thể là khuyến khích, van lơn, hứa điều tốt đẹp, có thể là bảo chúng làm điều mình dạy làm để đạt được điều chúng đang mong ước, v.v... Nhưng “&lt;i&gt;dỗ&lt;/i&gt;” luôn luôn là một biểu lộ êm ái, ngọt ngào của tình thương, của sự mềm dẻo, ân cần. Dỗ cách này không được thì dỗ cách khác, dỗ đủ cách không được mới nên dùng tới đe dọa, hình phạt. Thay vì nói : &lt;i&gt;“Con học đi, không học là bố đánh đòn đấy !” &lt;/i&gt;thì nói thật ngọt ngào : &lt;i&gt;“Con ráng học đi, học xong bố sẽ chở con đi chơi một vòng”&lt;/i&gt;, hay &lt;i&gt;“Ráng học nhe con, hôm nọ bố nghe cô giáo khen con trước mặt các phụ huynh khác làm bố hãnh diện về con lắm !”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;&lt;/p&gt;&lt;/i&gt;&lt;p style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt; 5. Năng nói chuyện tâm tình với con cái&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Con cái và cha mẹ chỉ thông cảm nhau, hiểu được tình thương của nhau khi đối thoại với nhau thường xuyên. Không đối thoại, tình thân giữa cha mẹ và con cái không thể có được. Sở dĩ một người nào đó trở thành bạn thân của ta là vì ta và người ấy năng nói chuyện tâm tình, tâm sự với nhau, nên hiểu được lòng ruột nhau. Vì thế, cha mẹ phải cảm thấy thích thú khi nói chuyện với con cái, khi lắng nghe chúng tâm sự, và làm sao để chúng cũng thích thú khi nói chuyện với mình. Hãy coi chúng là những người bạn hơn là người dưới mình. Hãy bắt chước thái độ của Đức Kitô đối với môn đệ :  “&lt;i&gt;Thầy không gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha của Thầy, Thầy đã cho anh em biết&lt;/i&gt;”  (Ga 15,15). Chỉ khi con cái ta sẵn sàng bầy tỏ tất cả những gì chúng nghĩ trong đầu, không dấu diếm vì sợ hãi hay ngại ngùng, ta mới có thể dạy dỗ chúng đúng hướng và hữu hiệu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Kết luận&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Mỗi gia đình là một thế giới nho nhỏ, một giáo hội nho nhỏ, một xứ đạo nho nhỏ mà chúng ta, những bậc cha mẹ, phải làm chủ, hướng dẫn, làm mục tử. Là mục tử của gia đình, chúng ta hãy trở nên mục tử tốt lành theo gương Đức Giêsu (x. Ga 10, 11.14). Hãy làm sao để nói được như Ngài : &lt;b&gt; “&lt;i&gt;Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào&lt;/i&gt;”&lt;/b&gt; (Ga 10,10b), &lt;b&gt; “&lt;i&gt;Tôi biết các chiên tôi và các chiên tôi biết tôi&lt;/i&gt;” (Ga 10,14), “&lt;i&gt;Tôi hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên&lt;/i&gt;”&lt;/b&gt; (Ga 10,11b.15b).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cái thế giới hay giáo hội nho nhỏ ấy tốt hay xấu, có biến thành một &lt;b&gt;“&lt;i&gt;Nước Trời nho nhỏ&lt;/i&gt;”&lt;/b&gt; hay không, tùy thuộc vào chúng ta rất nhiều, vào sự điều khiển gia đình và nuôi dạy con cái của chúng ta. Nuôi dạy con cái cho tốt, chính là góp phần làm tăng chất lượng của thế giới và Giáo Hội lên. Và đó cũng là góp phần xây dựng Nước Trời, biến trần gian thành Vương Quốc của Thiên Chúa (x. Kh 11,15).&lt;b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-5658761953116581704?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/5658761953116581704'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/5658761953116581704'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/nuoidayconcai.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-1173467479596268557</id><published>2009-08-06T19:59:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T20:05:44.008-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;HÔN NHÂN KHÁC TÔN GIÁO&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;&lt;br /&gt;I. Giáo Hội có cho phép kết hôn với người khác tôn giáo không ?&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 1. Bối cảnh xã hội hiện nay: cả nam lẫn nữ đều &lt;i&gt;giao tiếp cởi mở và rộng rãi hơn&lt;/i&gt;: đi làm, hoạt động xã hội… Tình yêu nẩy nở không phân biệt tôn giáo. &lt;i&gt;Tôn giáo không ngăn cách được tình yêu&lt;/i&gt;. Tại Á Châu, Kitô giáo chỉ chiếm 3,2% (riêng Công giáo được 2,4%). Tại Việt Nam, tỷ lệ nhiều hơn chút ít (khoảng 5%). Tỷ lệ quen biết là: cứ quen 10 người thì chỉ có 1 người là Kitô hữu. Do đó, nên coi việc hôn nhân khác đạo là chuyện bình thường, là một nhu cầu nhân bản. Vấn đề là phải hành xử sao cho thích hợp cả đôi bên. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 2. Vấn đề này&lt;i&gt; được đặt ra từ thời Giáo Hội nguyên thủy&lt;/i&gt;, được Phaolô &lt;i&gt;coi là bình thưòng và chấp nhận dễ dàng&lt;/i&gt; với hy vọng: «… &lt;i&gt;Chồng ngoại đạo được thánh hóa nhờ vợ, và vợ ngoại đạo được thánh hóa nhờ chồng có đạo… Thiên Chúa kêu gọi anh chị sống hòa thuận với nhau! Chị là vợ, biết đâu chị chẳng cứu được chồng? Hay anh là chồng, biết đâu anh chẳng cứu được vợ&lt;/i&gt;» (1 Cr 7,12-16).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 3. Trưóc đây, Giáo Hội &lt;i&gt;rất khắt khe&lt;/i&gt; trong vấn đề này coi như một &lt;i&gt;ngăn trở cấm hôn&lt;/i&gt; (tạp giáo) hay &lt;i&gt;tiêu hôn&lt;/i&gt; (dị giáo) là vì có sự kiện: lấy chồng / vợ ngoại giáo thì dễø bị mất đức tin và cuộc sống chung khó hạnh phúc, dễ bị đổ vỡ. Lý do: &lt;i&gt;bảo vệ đức tin&lt;/i&gt;, và &lt;i&gt;bảo vệ hạnh phúc gia đình. &lt;/i&gt;Nhưng ngày nay não trạng và văn hóa con ngưòi &lt;i&gt;đã đổi khác&lt;/i&gt; (tôn trọng phẩm giá, hiểu biết tôn giáo của nhau, có sự trưởng thành trong hôn nhân… nhiều hơn), nguy cơ trên đã &lt;i&gt;giảm bớt&lt;/i&gt;, nên Giáo Hội đã đưa ra những &lt;i&gt;luật lệrộng rãi&lt;/i&gt; hơn. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 4. Quan niệm thần học của GH về các tôn giáo đã thay đổi nhiều: Các tôn giáo không còn bị coi là tà giáo, mà là những môi trường cứu độ của Thiên Chúa. Theo CĐ Vatican II, những người trong các tôn giáo khác&lt;i&gt; vẫn có thể được cứu độ nhờ sống theo truyền thống tôn giáo của họ&lt;/i&gt;. Tuy nhiên, &lt;i&gt;theo đức tin Công giáo&lt;/i&gt;, thì Kitô giáo, nhất là Công giáo, &lt;i&gt;vẫn là tôn giáo chính thống, là phương tiện bảo đảm nhất để được cứu độ &lt;/i&gt;(bảo đảm nhất chứ không phải là bảo đảm duy nhất). &lt;i&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/i&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 5. Ngày nay, trên nguyên tắc, hôn nhân khác đạo &lt;i&gt;không còn bị cấm&lt;/i&gt; hay&lt;i&gt; bị coi là &lt;/i&gt;«&lt;i&gt;húy kỵ&lt;/i&gt;» như ít lâu nay: chính Đức Phaolô VI đã ra tông huấn để &lt;i&gt;phép chuẩn được chấp nhận dễ dàng hơn&lt;/i&gt;: người công giáo có thể lấy người ngoại một cách &lt;i&gt;thành sự và hợp pháp&lt;/i&gt;. Tuy nhiên, tại VN, sự dễ dàng này chưa được áp dụng rộng rãi: những người lớùn tuổi thường vẫn bảo vệ quan niệm cũ (cũng như trong nhiều chuyện khác, việc áp dụng thường bị chậm trễ hơn Giáo Hội toàn cầu: như thờ cúng tổ tiên, rước lễ trên tay, hội nhập văn hóa… ). &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 6. Việc kết hôn với người khác đạo dẫu sao cũng là chuyện &lt;i&gt;không được khuyến khích&lt;/i&gt;, kết hôn với người cùng đạo vẫn hay hơn, dễ có hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, nếu vì hôn nhân mà &lt;i&gt;làm cho người bạn mình tin và sống theo Chúa Kitô&lt;/i&gt;, thì cuộc hôn nhân đó &lt;i&gt;có thể được khích lệ xét về mặt truyền giáo&lt;/i&gt;. Vì thế, nếu khi có tình yêu với người khác đạo, ta &lt;i&gt;nên dùng chính cơ hội này&lt;/i&gt; để giúp cho người mình yêu&lt;i&gt; tin và sống&lt;/i&gt; theo Chúa Kitô, gia nhập Giáo Hội Ngài. Đó là việc &lt;i&gt;tốt đẹp nhất&lt;/i&gt; mình có thể làm được cho người mình yêu. &lt;i&gt;Quan niệm Phúc Aâm hóa mới&lt;/i&gt; đặt trọng tâm làm ngưòi ta &lt;i&gt;sống theo tinh thần Chúa Kitô&lt;/i&gt; hơn là nhắm làm cho người ta theo đạo mình (nhiều khi theo đạo mà không sống đạo).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;II. Làm sao thuyết phục người bạn mình theo Chúa Kitô ?&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 1. Phải &lt;i&gt;khôn ngoan và tế nhị&lt;/i&gt;, tránh xúc phạm tới tôn giáo của họ, trái lại nên tỏ ra &lt;i&gt;tôn trọng&lt;/i&gt; niềm tin của họ, đề cao những mặt mạnh của tôn giáo họ và nhấn mạnh những điểm tương đồng. Đồng thời nên cho thấy &lt;i&gt;sự cần thiết&lt;/i&gt; của Kitô giáo trong việc &lt;i&gt;cứu độ bản thân và xã hội&lt;/i&gt;. Tránh tranh luận hơn thua về tôn giáo. Các bậc cha mẹ nên tránh những phản ứng biểu lộ sự bất bình hay bất đồng ý về cuộc hôn nhân trước mặt người kia. Phải tạo cho người khác đạo ấn tượng tốt về đạo của mình. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 2. Áp dụng câu «&lt;i&gt;nhập gia tùy tục&lt;/i&gt;» để khuyến khích họ theo đạo, đồng thời cho thấy ý thức của người Kitô hữu về &lt;i&gt;sự tối cần thiết của phần rỗi, &lt;/i&gt;khiến họ không thể từ bỏ niềm tin của mình (nhưng cũng không ép buộc người kia phải theo tôn giáo mình: theo Chúa Kitô phải tự nguyện theo, không thể ép buộc). &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 3. Phải &lt;i&gt;chấp nhận tính cách tương đối&lt;/i&gt; trong động cơ ban đầu thúc đẩy họ theo đạo: có thể theo đạo chỉ để lấy vợ/chồng, chỉ để «nhập gia tùy tục», chứ &lt;i&gt;không phải là do tin hay do được cảm hóa thực sự&lt;/i&gt;. Nhưng ít ra là họ có nhiều cơ hội để được cảm hóa, và các thế hệ con cháu của cặp vợ chồng ấy sẽ là Kitô hữu, được giáo dục theo truyền thống Giáo Hội. Việc cảm hóa là bổn phận phải làm sau. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 4. Điều &lt;i&gt;quan trọng&lt;/i&gt; tiếp theo là việc &lt;i&gt;âm thầm cảm hóa&lt;/i&gt; bằng những gương sáng, bằng sự cầu nguyện hy sinh, bằng một &lt;i&gt;đời sống Kitô hữu tốt đẹp&lt;/i&gt; trong bậc vợ chồng: «&lt;i&gt;… dù có những người chồng không tin Lời Chúa, thì họ cũng sẽ được chinh phục nhờ cách ăn nết ởcủa chị em mà không cần chị em phải nói lời nào, vì họ thấy cách ăn nết ở cung kínhcủa chị em&lt;/i&gt;» (1 Pr 3,1-2). Do đó, phía bên công giáo phải &lt;i&gt;cố gắng và hy sinh gấp đôi&lt;/i&gt; những phối ngẫu công giáo khác (về mặt giáo lý cũng như mặt sống đạo trong gia đình)&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 5. Vấn đề &lt;i&gt;thờ cúng tổ tiên&lt;/i&gt;: Sống đạo Kitô giáo không có nghĩa là bỏ ông bà tổ tiên, Giáo Hội &lt;i&gt;đã cho phép lập bàn thờ để kính nhớ ông bà tổ tiên&lt;/i&gt;: Tông huấn &lt;i&gt;Plane Compertum&lt;/i&gt; (8.12.1939) của Đức Piô XII; Ngày 20.10.1964, Thánh bộ Truyền giáo một lần nữa cho phép các tín hữu VN áp dụng tông huấn trên; Thông cáo chính thức của HĐGMVN cho phép ngày 14.6.1965 và được 7 GM lập lại ngày 14.11.1974. Giáo Hội &lt;i&gt;luôn khuyến khích thảo kính cha mẹ&lt;/i&gt; khi các ngài còn sống, cũng như khi đã chết: năng tưởng nhớ, cầu nguyện, dâng lễ, xin lễ, là những điều có &lt;i&gt;ích lợi thiết thực&lt;/i&gt; cho người chết…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;III. Phép chuẩn&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;A. Nguyên tắc: &lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Năm 1970, Đức Phaolô VI với tông thư &lt;i&gt;Matrimonia Mixta&lt;/i&gt; (Hôn nhân hỗn hợp) đề ra những &lt;i&gt;điều kiện dễ dàng hơn&lt;/i&gt; trong phép chuẩn, cho phép người Công giáo kết hôn với người ngoài Công giáo, một cách &lt;i&gt;thành sự và hợp pháp&lt;/i&gt;, với các điều kiện: &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 1. Phía bên Công giáo phải tuyên bố&lt;i&gt; sẵn sàng&lt;/i&gt; tránh những nguy hiểm mất đức tin, và thành thật hứa (buộc nhặt) sẽ &lt;i&gt;hết sức&lt;/i&gt; lo liệu để con cái đã hay sẽ sinh ra được rửa tội và giáo dục trong Giáo Hội Công Giáo (miễn là hết sức, dù không thành công, nhưng vẫn phải tôn trọng sự hòa hợp và hạnh phúc gia đình mình)&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 2. Phải cho phía bên không Công giáo &lt;i&gt;hiểu rõ&lt;/i&gt; những điều bên phía Công giáo phải cam kết, để người ấy&lt;i&gt; ý thức&lt;/i&gt; người bạn mình phải cam kết những gì và buộc phải làm những gì. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 3. Phải cho cả hai bên biết các &lt;i&gt;mục đích và hai đặc tính căn bản&lt;/i&gt; của hôn nhân (đơn hôn và vĩnh hôn) mà không bên nào được loại bỏ một đặc tính nào. Ngoài ra, cần dạy giáo lý &lt;i&gt;cho bên Công giáo&lt;/i&gt; thật kỹ càng, giúp người ấy sống Đức Tin vững vàng, ý thức nhiệm vụ của mình, làm gương tốt… để nhờ đó người ấy sẽ cảm hóa, tạo niềm tin công giáo cho người bạn kia. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;B.Hình thức pháp lý: &lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 1. Bình thường, hôn phối của 2 người Công giáo (dù là tái kết hôn vì góa) &lt;i&gt;phải&lt;/i&gt; được cử hành theo &lt;i&gt;hình thức pháp lý thông thường&lt;/i&gt;, kèm theo hình thức phụng vụ, &lt;i&gt;trong thánh lễ&lt;/i&gt; (hoặc ngoài thánh lễ khi có lý do chính đáng). &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 2. Hôn phối giữa một người Công giáo và một người không Công giáo (có phép chuẩn) cũng phải được cử hành theo &lt;i&gt;hình thức pháp lý thông thường&lt;/i&gt;. Nhưng khi có lý do quan trọng thì Đấng Bản Quyền có quyền chuẩn, miễn là giữ được tính cách công khai cho tòa ngoài (TT &lt;i&gt;Matrimonia Mixta&lt;/i&gt;). &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;C. Nghi thức phụng vụ: &lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 1. Nếu bên kia là người Kitô giáo không Công giáo, thì cử hành theo nghi thức ngoài thánh lễ, nhưng khi Đấng Bản Quyền đồng ý, thì được cử hành trong thánh lễ. Tuy nhiên, người không Công giáo không được rước lễ. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 2. Nếu người kia là lương (chưa rửa tội) thì theo nghi thức riêng (xem trong Sách Lễ Mùa Vọng, trang 354-356). Khi cử hành hôn phối khác đạo (có phép chuẩn), nếu có lý do chính đáng, có thể bỏ hình thức phụng vụ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;V. Phép giao&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 1. Là một biện pháp kỷ luật thời xưa của Giáo Hội &lt;i&gt;(nay đã bỏ), &lt;/i&gt;chỉ áp dụng theo tập tục tại Việt Nam, nhất là trong các giáo phận Đàng Ngoài, cho những đôi hôn phối ít xứng đáng vì đã làm gương xấu (như đã công khai sống chung với nhau, đã «mang bầu» rõ ràng trước khi kết hôn theo tôn giáo… ). &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; 2. Trong phép giao, nghi lễ hôn phối được cử hành theo &lt;i&gt;hình thức pháp lý&lt;/i&gt; không kèm theo phụng vụ, nghĩa là cử hành &lt;i&gt;ngoài thánh lễ&lt;/i&gt; một cách khiêm tốn âm thầm, không long trọng, không rầm rộ.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-1173467479596268557?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/1173467479596268557'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/1173467479596268557'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/honnhankhactongiao.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-8576450846648252082</id><published>2009-08-06T19:54:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T19:57:38.308-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;HÃY LÀ MỘT NGƯỜI MẸ XỨNG ĐÁNG TRƯỚC ĐÃ! &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;Khi Mẹ và các anh em Chúa Giêsu đến tìm Ngài, một phụ nữ lên tiếng: «&lt;i&gt;Phúc cho lòng dạ đã cưu mang Ngài và vú đã cho Ngài bú&lt;/i&gt;» (Mt 12, 46-50). Ý của người phụ nữ đó là muốn ca ngợi Mẹ Ngài: Được làm Mẹ Ngài là một hạnh phúc tuyệt vời, một vinh dự lớn lao, vì được làm mẹ của một vị tiên tri, một Đấng Cứu Thế: một con người vĩ đại và lý tưởng. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đọc đoạn Tin Mừng này chắc hẳn có nhiều người mẹ đã nghĩ: Phải chi mình sinh được một người con làm vĩ nhân: phải chi những đứa con của mình biết sống đạo hạnh, cao thượng theo gương Đức Giêsu. Chắc chắn người mẹ nào cũng mong ước con mình nên người xứng đáng, hữu ích cho gia đình, xã hội và quê hương. Đó là những mong ước rất chính đáng. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Trong số những phụ nữ có con, Đức Maria là người diễm phúc nhất. Nhưng không phải Ngài được diễm phúc đó một cách ngẫu nhiên, không có công lênh gì. Cuộc sống và chí hướng của Ngài cho thấy Ngài xứng đáng được vinh dự đó. Nói chung, người mẹ nào cũng muốn có con tài giỏi, đức hạnh hơn người. Nhưng vấn đề là chính người mẹ có xứng đáng có những người con như lòng mình mong ước không? Mình có xứng đáng với chính đứa con mình sinh ra không? Mình có sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh gian khổ, sống một cuộc đời đẹp lòng Thiên Chúa để xứng đáng với một người con thánh thiện tốt đẹp mà Thiên Chúa có thể ban cho mình không? &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Cái gì cũng có cái giá của nó. Được làm Mẹ Đức Kitô, Đức Maria cũng phải là một người như thế nào đó tương xứng với diễm phúc đó. Cái giá Ngài trả cho vinh dự đó chắc hẳn rất nhiều người mẹ không dám chấp nhận. Đôi khi đành chấp nhận có những đứa con tầm thường hơn là phải chấp nhận những hy sinh cao cả để có được những người con cao cả! &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đức Giêsu nói: «&lt;i&gt;Những kẻ làm theo Thánh Ý Cha Ta trên trời mới là Mẹ và là anh chị em Ta&lt;/i&gt;» (Mt 12, 50). Như thế, xem ra Ngài đã coi nhẹ cái vinh dự làm nhân vật này hay nhân vật kia, cho dẫu là làm Mẹ Đấng Cứu Thế đi nữa. Điều Ngài đặt nặng là «&lt;i&gt;làm theo Thánh Ý Cha trên trời&lt;/i&gt;». Chỉ có Thánh Ý Thiên Chúa mới là chuyện quan trọng, còn tất cả mọi sự khác – dù là hạnh phúc, vinh dự hay chính mạng sống của mình đi nữa – đều không đáng phải quan tâm cho bằng Thánh Ý Thiên Chúa. Nhưng chính vì Ngài coi mình không là gì cả mà Ngài trở thành vĩ đại. Chính vì Ngài sẵn sàng tự hạ nên Ngài được tôn vinh (Pl. 2, 6-11). Với tinh thần như thế, chắc chắn Ngài không đặt nặng cái vinh quang của một Đấng Cứu Thế mà muôn đời phải tôn thờ, một vị Tôn Sư mà muôn thế hệ phải vâng nghe. Điều duy nhất mà Ngài quyết tâm thực hiện và quan tâm suốt cả cuộc đời là làm sao sống cho đúng Thánh Ý Thiên Chúa Cha, làm tất cả những gì Thiên Chúa Cha muốn Ngài làm. Không phải là Ngài vô cảm trước những vinh quang trần thế, không phải là của cải vật chất không quyến rũ Ngài, không phải là Ngài không hề bị lôi cuốn vào con đường hưởng thụ của thế gian. Ngài cũng bị cám dỗ (Mt 4, 1-11), cũng phải chiến đấu với chúng ta ở chổ không bao giờ thất bại trong những cuộc chiến đấu. Lý do là Ngài yêu mến Thiên Chúa tha thiết hơn chúng ta, sự lựa chọn căn bản của Ngài – là lấy Thánh Ý Thiên Chúa làm lẽ sống – dứt khoát và mạnh mẽ hơn sự chọn lựa của chúng ta. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Sự chọn lựa căn bản của Ngài là dứt khoát đứng về phía Thiên Chúa chứ không về phía bản ngã của Ngài, về phía Thánh Ý Thiên Chúa chứa không về phía ý riêng của Ngài. Ngài đã dứt khoát một lần thay cho tất cả «&lt;i&gt;sát tế&lt;/i&gt;» «&lt;i&gt;cái tôi đáng yêu&lt;/i&gt;» của Ngài cùng với ý riêng của Ngài như một của lễ toàn thiêu dâng lên Thiên Chúa Cha. Và Ngài cũng lập lại sự «&lt;i&gt;sát tế&lt;/i&gt;» đó trong từng giây phút cuộc đời Ngài. Sự lựa chọn căn bản đó khiến Ngài nói: «&lt;i&gt;Ta đến không phải để làm theo ý Ta mà theo ý Đấng đã sai Ta&lt;/i&gt;» (Ga 6, 38), «&lt;i&gt;Ta không tìm ý riêng Ta mà tìm ý Đấng đã sai Ta. Ta không tự ý mình làm một điều gì&lt;/i&gt;» (Ga 5, 30). Không phải Ngài nói không có ý riêng, và không phải ý riêng của Ngài lúc nào cũng phù hợp với ý của Thiên Chúa. Nhưng lập trường của Ngài lúc nào cũng là: «&lt;i&gt;Xin đừng theo ý con, mà hãy theo ý Cha&lt;/i&gt;» (Lc 22, 42). &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đức Giêsu thế nào thì Mẹ Ngài cũng như vậy. Suốt đời, lúc nào Đức Maria cũng đặt ý Chúa lên hàng đầu, Ngài sẵn sàng hy sinh tất cả cho Thánh Ý Thiên Chúa. Vì thế, Ngài đã thành tựu được mọi sự tốt đẹp, đã trải qua mọi thử thách ghê gớm một cách chiến thắng. Nếu không đặt ý Chúa lên hàng đầu làm sao Ngài có thể &lt;b&gt;&lt;i&gt;im lặng đứng &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;nhìn con quằn quại trên Thánh Giá đầy đau thương nhục nhã, mà không vật vã khóc lóc thảm thiết như những bà mẹ khác? (Ga 19, 25). Đâu phải Ngài không thương con bằng những bà mẹ khác! Ngài có thái độ can đảm như thế chỉ vì Ngài biết thuận theo thánh Ý Thiên Chúa. Chắc chắn lúc đó Ngài lập lại tiếng «&lt;i&gt;xin vâng&lt;/i&gt;» như hồi được Thiên Sứ truyền tin (Lc 1, 38), và như thói quen của Ngài trong suốt cuộc đời. Có thể nói toàn bộ cuộc đời Ngài được dệt bằng những tiếng «&lt;i&gt;xin vâng&lt;/i&gt;» như thế! &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Xét về bản tính con người, chắc chắn Đức Giêsu cũng chịu ảnh hưởng Đức Maria rất nhiều. Đức Giêsu đã sống thật thánh thiện sống hoàn toàn phù hợp với Thánh Ý Thiên Chúa một phần nào đó là nhờ gương sáng và sự dạy dỗ của Đức Maria và Thánh GiuSe. Nếu Đức Giêsu đã nói: «&lt;i&gt;Cứ xem trái thì biết cây&lt;/i&gt;»... (Mt 7, 16-18), ta có thể hiểu được con người của Đức Maria khi ta biết được con người của Đức Giêsu. Nếu câu tục ngữ Việt Nam“Con gái nhờ đức cha, con trai nhờ đức mẹ” mà đúng, thì nó càng đúng trong tương quan của Đức Giêsu và Mẹ Ngài. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đức Maria lúc nào cũng mong con mình biết luôn luôn tuân theo ý Thiên Chúa, sẵn sàng hy sinh ý riêng để làm theo ý Thiên Chúa. Ngài chỉ mong con mình làm điều đó, mà chính Ngài đã làm gương về điều đó một cách trọn hảo. Đức Giêsu đã noi gương Mẹ mình và trở nên một người hoàn toàn đẹp lòng Thiên Chúa (Mt 3, 17; 17, 5). Và Đức Giêsu đã nhận ra rằng cái diễm phúc to lớn của Mẹ mình không hệ tại được làm Mẹ Đấng Cứu Thế hay Mẹ của vị Thiên Chúa Nhập Thể, mà hệ tại việc Ngài hoàn toàn làm theo Thánh Ý Thiên Chúa. Ngài đã nhìn vào nguyên nhân sâu kín chứ không nhìn vào hậu quả trước mắt. Nếu Mẹ Ngài không biết tuân hành ý Thiên Chúa thì làm sao xứng đáng với diễm phúc ấy? &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đó là một bài học thật quý giá cho mọi người mẹ. Nếu ta mong muốn con cái mình trở nên người tốt, thánh thiện, biết tuân hành Thánh Ý Thiên Chúa, thì chính ta phải thực hiện điều đó trước đã. Chính ta phải làm gương trước rồi dạy con làm theo gương đó. Muốn con mình sống thế nào thì ta hãy sống như thế trước đã, và rồi ta sẽ thấy «&lt;i&gt;mẹ nào con nấy&lt;/i&gt;». Lúc đó diễm phúc của ta là ở chổ làm theo Thánh Ý Chúa chứ không phải ở chổ con ta trở thành thế này hay thế kia. Nếu ta đã làm đúng theo ý Thiên Chúa, ta đừng sợ con mình sẽ hư hỏng, hay không được như ta ước nguyện. Gương Thánh Mônica và Augustinô khuyến khích những người mẹ hiện đang có những đứa con hư hỏng hãy kiên trì tin vào Chúa, vào hiệu lực của lời cầu nguyện. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Tóm lại, hãy lo thực hiện Thánh Ý Thiên Chúa trước đã, hãy trở nên một người mẹ xứng đáng trước đã, còn mọi sự khác hãy phó thác cho Thiên Chúa, Ngài sẽ ban cho sau (x. Mt 6, 33). &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-8576450846648252082?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/8576450846648252082'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/8576450846648252082'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/haylamotnguoimexungdangtruocda.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-8575418473967198449</id><published>2009-08-06T19:49:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T19:53:23.969-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;Hai thứ tình yêu&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;&lt;b&gt;Chuyện một người mẹ&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Cách đây mười mấy năm, tôi có quen một chị sống bụi đời từ hồi còn nhỏ, lúc ấy chị đang làm nghề mua bán ve chai. Chị có một đứa con trai còn nhỏ, kết quả mối tình bụi đời của chị. Cha đứa trẻ đã «&lt;i&gt;truất ngựa truy phong&lt;/i&gt;» bỏ rơi hai mẹ con chị, và đứa con của chị trở thành người chị yêu quý nhất trên đời. Chị cảm thấy khó có thể sống mà thiếu nó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng cuộc sống đầu đường xó chợ của chị không cho phép chị săn sóc và giáo dục con chu đáo được, vì chị phải lam lũ suốt ngày ngoài đường mới đủ sống. Vì thế, đứa con càng lớn lên càng tỏ ra tiêm nhiễm những thói xấu của những đứa trẻ bụi đời khác: xấc xược, gian xảo, thích gây lộn… Chị chẳng đủ tiền cho con đi học, vả lại, sống bất hợp pháp và không có hộ khẩu như chị thì khó mà cho con đi học.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi đứa trẻ lên năm, một cơ hội may mắn đến với hai mẹ con chị. Có một đôi vợ chồng giáo viên trẻ ở gần chỗ chị, lấy nhau đã năm sáu năm mà không có con, sắp được di trú sang Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ gia đình. Họ thấy đứa con trai của chị kháu khỉnh dễ thương, đã ngỏ lời xin chị cho nó làm con nuôi của họ, và họ sẽ đem nó sang Mỹ. Họ hứa sẽ yêu thương và nuôi nấng giáo dục nó tử tế như con ruột, vì họ hiện không có con… Chị đã bàn hỏi việc này với nhiều người trong đó có tôi, ai cũng chứng tỏ cho chị thấy: nếu chị chấp nhận cho nó làm con nuôi hai vợ chồng giáo viên ấy và để nó sang Mỹ thì tương lai của nó sẽ tốt đẹp hơn rất nhiều. Còn nếu chị giữ nó lại chắc chắn cuộc đời nó sau này cũng sẽ hẩm hiu và đen tối như cuộc đời của chị.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau nhiều đêm suy nghĩ, chị quyết định giữ nó lại với chị vì chị «&lt;i&gt;thương&lt;/i&gt;» nó quá, xa cách nó chị làm sao sống được? Chỉ xa nó có một ngày thì chị đã nhớ nó không chịu nổi rồi! Vì thế, chị đã chấp nhận thà rằng tương lai nó không ra gì còn hơn là «&lt;i&gt;mất&lt;/i&gt;» nó khỏi tầm tay, phải sống thiếu nó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kết quả quyết định vị kỷ của chị là: đứa trẻ sau này đã trở thành một tên chuyên móc túi và trộm cắp, từng vào tù ra khám nhiều lần. Khi biết được sự lựa chọn ích kỷ của mẹ nó như vậy, nó đã oán thù mẹ nó. Thế là cuối cùng chị cũng vẫn bị mất con, mà mất một cách đáng tiếc hơn nữa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;&lt;b&gt;Tình yêu vị tha và tình yêu vị kỷ &lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;Bảo rằng người mẹ trong câu chuyện trên không thương con thì không đúng, vì tình cảm của chị đối với con chị thật là sâu đậm. Chính xác hơn có thể nói: Tình yêu của chị là tình yêu vị kỷ hay tình yêu chiếm hữu. Chị yêu con là vì chị, vì hạnh phúc của chị, vì nó thỏa mãn nhu cầu yêu thương của chị, làm chị bớt cô đơn. Chị coi nó như một vật sở hữu, hay như một phương tiện phục vụ cho hạnh phúc của chị. Khi có sự xung đột giữa hạnh phúc của chị với của con, thì chị sẵn sàng hy sinh hạnh phúc của con cho hạnh phúc của chị. Chị đã đặt nặng hạnh phúc và đau khổ của chị hơn hạnh phúc và đau khổ của con. Có thể nói chị yêu bản thân chị hơn yêu con.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Còn tình yêu vị tha hay tình yêu dâng hiến đặt hạnh phúc và đau khổ của người mình yêu lên trên hạnh phúc và đau khổ của bản thân mình, sẵn sàng chấp nhận đau khổ để người mình yêu được hạnh phúc. Tình yêu vị tha là tình yêu quên mình, sẵn sàng dâng hiến, ban tặng, thậm chí ngay cả bản thân mình, lấy hạnh phúc của người mình yêu làm hạnh phúc của mình. Vì thế, khi thấy người mình yêu được hạnh phúc nhờ những hy sinh, mất mát, thiệt thòi của mình, thì ta cảm thấy thỏa mãn hạnh phúc, vì những đau khổ mình chịu đã đem lại kết quả tốt đẹp cho người mình yêu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mẫu gương của tình yêu vị tha là Đức Kitô: «&lt;i&gt;Ngài đã yêu đến tận cùng những kẻ thuộc về Ngài&lt;/i&gt;»(Ga 13,1); «&lt;i&gt;Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của kẻ hiến mạng sống cho người mình yêu&lt;/i&gt;»  (Ga 15,18); «&lt;i&gt;Ta là mục tử nhân lành sẵn sàng thí mạng sống vì đàn chiên&lt;/i&gt;»  (Ga 10,11.15b). Cũng vậy:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;– Một người mẹ sinh nở khó khăn, sẵn sàng chết để con mình được sống khi bác sĩ chỉ có thể cứu được hoặc mẹ hoặc con, cũng là tình yêu vị tha.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;– Một cặp vợ chồng có một đứa con trai duy nhất để nối dõi tông đường lại chấp nhận cho con đi tu theo tiếng Chúa gọi nó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;– Hay một gia đình nọ khi cha mẹ mất đi, người chị cả đã hy sinh cả tương lai và tình yêu của mình để lo lắng làm ăn nuôi cả một đàn em ăn học nên người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tất cả đều là những mẫu gương của tình yêu vị tha.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;&lt;b&gt;Tình yêu vị tha trong gia đình&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Tình yêu trong gia đình (giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em với nhau) phải là tình yêu vị tha thì hạnh phúc trong gia đình mới bền vững. Tình yêu vị kỷ cũng có thể đem lại hạnh phúc, nhưng là một hạnh phúc dễ gãy đổ, vì cuối cùng, một ngày nào đó, tình yêu vị kỷ sẽ bị khám phá ra là không phải tình yêu đích thực, mà chỉ là một thứ ích kỷ trá hình một cách tế nhị. Mà ích kỷ thì làm sao đem lại hạnh phúc lâu dài được?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong đời sống vợ chồng, tình yêu vị kỷ được biểu lộ khi ta cứ đòi vợ hay chồng mình phải hy sinh cho mình cách quá đáng, đang khi chính mình lại không muốn hy sinh bao nhiêu. Còn tình yêu vị tha được thể hiện qua những câu tự hỏi: Tôi đã hy sinh cho chồng hay vợ con tôi những gì? Tôi có thể hy sinh hơn nữa không? Tình yêu vị kỷ khiến người vợ không muốn chồng mình hy sinh cho một ai khác ngoài gia đình, không muốn người chồng tham gia phục vụ xã hội vì như thế làm chồng mình mất thì giờ phục vụ mình và con cái. Tình yêu vị tha khiến người vợ còn nghĩ tới biết bao người cần được giúp đỡ ngoài gia đình mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giữa cha mẹ và con cái, tình yêu vị kỷ khiến cha mẹ không muốn con cái trưởng thành, vì khi trưởng thành chúng sẽ không còn lệ thuộc vào mình nữa, không còn coi lời nói của mình như những chân lý tuyệt đối phải theo nữa… Tình yêu vị tha khiến cha mẹ luôn luôn tạo điều kiện để con mình trưởng thành, cho dẫu chúng tỏ ra không cần mình như trước. Và họ sẵn sàng để chúng phát triển theo nhu cầu của chúng, chứ không áp đặt chúng theo thiên kiến của mình. Tình yêu vị tha khiến cha mẹ luôn luôn đặt nặng tương lai của con cái hơn tương lai của chính mình, và sẵn sàng hy sinh tất cả cho tương lai của chúng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong bất kỳ tư tưởng, thái độ, cử chỉ, hành vi nào của ta đối với những người trong gia đình, hay với những người ta thương mến, ta cũng đều có thể biểu lộ tình yêu hoặc vị kỷ hoặc vị tha đối với họ. Chúng ta có hàng trăm ngàn cách biểu lộ tình yêu vị tha hoặc vị kỷ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khuynh hướng vị kỷ vốn nằm ngay trong bản tính của ta, nên ta phải phấn đấu rất nhiều với chính bản thân mình mới có thể trở nên vị tha được. Cũng vậy, trong địa hạt tình cảm, tình yêu vị kỷ không ai là không có, còn tình yêu vị tha chỉ có được sau khi phấn đấu với chính bản thân, nhất là sau khi thấm nhiễm và cảm nghiệm đuợc tình yêu của Đức Kitô đối với chính mình. Không phải yêu bằng tình yêu vị tha là chúng ta bị thiệt thòi. Trái lại, chỉ có những ai yêu một cách vị tha, biết dâng hiến trao tặng, mới là người hạnh phúc nhất, đồng thời tạo được hạnh phúc cho mọi người. Tình yêu vị tha cần thiết cho mọi người, đặc biệt trong mọi gia đình.&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-8575418473967198449?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/8575418473967198449'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/8575418473967198449'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/haithutinhyeu.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-771112447861802516</id><published>2009-08-06T19:44:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T19:47:54.795-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;&lt;span style="font-weight: bold;font-size:180%;" &gt;GHEN MỘT CÁCH KHOAN DUNG &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: center; color: rgb(153, 0, 0);"&gt;&lt;span style="font-weight: bold;font-size:130%;" &gt;(Tâm sự của một người vợ)&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;Đã mười mấy năm nay, kể từ khi hai vợ chồng tôi lập gia đình, ai cũng phải công nhận rằng mái ấm của chúng tôi thật là hạnh phúc. Anh ấy quả là một người chồng và người cha gương mẫu : vừa bảo đảm được đời sống kinh tế gia đình, vừa chiều vợ dạy con không chê vào đâu được. Anh ấy nuôi gia đình bằng nghề may. Anh là một thợ may rất giỏi, nên tiệm may của chúng tôi không bao giờ thiếu khách. Chúng tôi phải thuê ba thợ để lắp ráp những quần áo anh cắt. Chúng tôi cảm thấy thật hạnh phúc với ba đứa con - hai trai một gái- vừa kháu khỉnh thông minh vừa ngoan ngùy dễ dạy. Nhưng hạnh phúc như thế bỗng nhiên bị đe dọa trầm trọng. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đã hơn một năm nay, anh được một người bạn thân cũ mời cộng tác trong một Công ty may mặc xuất khẩu tương đối cũng khá lớn ở quận. Anh bạn là Giám đốc, còn anh ấy làm Phó Giám đốc đặc trách kỹ thuật. Từ ngày thành lập đến nay, tuy có nhiều thất bại lúc ban đầu, nhưng về sau, Công ty càng ngày càng làm ăn thành công. Việc giao thiệp của anh ngày càng rộng, rất nhiều ngày anh phải đi suốt ngày, đến khuya mới về. Điều đó thật dễ hiểu vì công việc và sự giao thiệp của anh đòi buộc phải như vậy. Anh ấy là một người chồng gương mẫu và rất biết điều, lại luôn luôn thành thật với vợ con. Vì thế tôi cũng phải tỏ ra là người vợ gương mẫu, biết tin tưởng vào người chồng đáng tin tưởng của mình. Những đêm anh về thật khuya, tôi vẫn nghĩ rằng anh phải giao tiếp với bạn bè. Vả lại, anh vẫn luôn luôn tỏ ra ân cần săn sóc tôi thậm chí còn hơn trước. Tôi nghĩ rằng anh làm như vậy để bù lại cho việc vắng mặt cả ngày của anh. Vào thời kinh tế mở cửa như hiện nay, việc bận bịu như thế đâu có gì là lạ. Tôi đã nghe nhiều về đời sống vợ chồng ở những nước tiên tiến, vợ chồng ít có thời giờ gặp nhau lắm. Và tôi vẫn cảm thấy đầy tràn hạnh phúc như thuở nào. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Nhưng một hôm, tôi được một người bạn gái làm kế toán trong Công ty của anh nói rằng tôi phải coi chừng anh ấy, vì anh đang có liên hệ rất thân thiện với một cô thợ may trẻ đẹp và rất nhí nhảnh. Mới nghe, tôi cho rằng chắc không đến nỗi nào. Một con người đẹp trai lại bặt thiệp dễ thương như anh thì được nhiều người đẹp thương là chuyện bình thường. Tôi đã từng thấy như thế và thấy thái độ bình thường của anh là đối xử lại một cách thật nhã nhặn dễ thương, nhưng rất khôn ngoan trong việc từ chối để không đi quá giới hạn cho phép. Tôi vẫn tin rằng một người có phẩm chất như anh sẽ không bao giờ đi quá giới hạn, không bao giờ phản lại lời giao ước mà hai vợ chồng tôi đã trung thành bao nhiêu năm nay. Nhưng người bạn gái cho rằng tôi quá chủ quan và quá tin tưởng. Tôi bèn bình thản nhờ người theo dõi. Và kết quả quả thật không tốt đẹp như tôi nghĩ. Sự liên hệ của anh với cô ấy đã đi đến chỗ hết sức thân mật. Khi biết được sự thật, máu tôi như muốn sôi trào lên, hơi thở tôi như muốn nghẹn ở cổ. Thì ra tôi đã bị phản bội. Chưa bao giờ trong cuộc đời tôi cảm thấy đau đớn và tức giận đến như vậy. Lúc đó tôi mới hiểu được thế nào là ghen, và tại sao khi ghen người ta lại có thể làm được những việc hết sức tàn nhẫn mà bình thường họ không thể làm được thậm chí còn kết án nữa. Cứ nghĩ đến sự thân mật mà có thể giờ đây hai người đang hưởng là tim tôi đau nhói, ruột tôi quặn lại. Phải mất nhiều giờ sau tôi mới bình tĩnh lại được. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Trong một tình huống như thế, tôi nhận ra mình cần phải hết sức bình tĩnh mới có thể xử sự khôn ngoan được. Nếu cứ hành động theo sự tức giận, theo bản năng của mình thì có thể gây ra nhiều tai hại không thể sửa chữa được. Thế là tôi nhất quyết phải bình tĩnh để xử sự một cách khôn ngoan nhất. Bình tĩnh trong hoàn cảnh này thật là khó, vì nhiều lúc tôi như muốn điên lên. Tôi cầu xin Chúa giúp tôi bình tĩnh và khôn ngoan đúng theo ý Ngài. Tôi quyết định : nếu vào một thời điểm nào đó tôi không biết phải xử sự thế nào mới là khôn ngoan, thì tôi sẽ xử sự như bình thường không có chuyện gì xảy ra. Chỉ khi nào biết một hành động nào đó là khôn ngoan thì tôi mới làm. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Khi anh ấy về, tôi hoàn toàn tỏ ra như không biết gì, và tôi làm tất cả những gì mọi khi tôi vẫn làm cho anh, có điều là làm một cách tốt đẹp và cẩn trọng hơn rất nhiều. Tôi cố tình chứng tỏ cho anh ấy thấy tôi vẫn luôn luôn là người vợ yêu thương và săn sóc anh hết mình, một người vợ dịu hiền, ngọt ngào, dễ thương, và có một tâm hồn đẹp. Đó là những điều mà nhiều lần anh bảo rằng đã khiến anh yêu thương tôi. Và bây giờ tôi đang tham dự vào một cuộc chiến đấu giành lại tình yêu của chồng tôi khỏi tay cô gái trẻ đẹp kia. Một cuộc chiến đấu mà vũ khí là sự khôn ngoan và là tất cả những gì tốt dẹp có khả năng chinh phục được tình yêu. Chắc chắn tôi không thể hơn cô ấy về sự trẻ đẹp với những nét hấp dẫn của tuổi trẻ. Nhưng chắc chắn tôi có thể hơn cô ấy ở chỗ tôi biết ý chồng tôi và biết chiều chồng tôi như thế nào để anh ấy ưng ý. Nhất là tôi biết anh ấy bị hấp dẫn bởi những gì nơi người phụ nữ, kinh nghiệm làm vợ anh bao nhiêu năm đã cho tôi biết điều ấy. Và bây giờ tôi phải đem tất cả những thứ đó ra làm vũ khí chiến đấu. Nắm được những yếu tố đó, tôi cảm thấy nắm chắc phần thắng trong tay. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Tôi biết rằng người đàn ông nào cũng đều bị lôi cuốn bởi sắc đẹp, nét duyên dáng và dịu hiền của người phụ nữ, và nhất là họ luôn ham thích một cái gì mới, cảm giác mới. Nhưng cái gì mới thì cũng sẽ trở thành cũ và bớt phần hấp dẫn đi. Những nét đẹp tinh thần tuy không hấp dẫn nhưng vẫn hấp dẫn mãi. Thế là tôi bắt đầu tăng cường tất cả những gì tôi vẫn có đã từng chinh phục được chồng tôi: nụ cười, giọng nói, cách săn sóc, cách tỏ tình, cách âu yếm, và nhất là những gì biểu lộ một tâm hồn cao thượng, khoan dung, tươi mát. Trong những giây phút sống gần anh ấy, tôi đã cố gắng làm sống lại những ngày thơ mộng xa xưa đẹp nhất của chúng tôi. Tôi cũng khôn khéo nhắc lại những lời thề nguyền mà chúng tôi đã từng trao cho nhau. Tôi tuyệt nhiên không để cho anh ấy nghi ngờ rằng tôi đã biết chuyện của anh ấy.. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Và cuối cùng thì tôi đã thắng. Tôi không hề nói một lời nào yêu cầu anh bỏ cô ấy, tôi chỉ kiên nhẫn chờ đợi anh ấy hoàn toàn trở về với tôi. Và tôi đã đạt được ý nguyện sau một thời gian chịu đựng. Nhiều ngày sau khi đã chắc chắn chinh phục lại được tình yêu của anh, tôi mới cho anh biết rằng tôi có nghe nói ít nhiều về tương quan giữa anh và cô ấy. Khi biết chắc chắn rằng tôi không ghen (lúc này thì đâu thèm ghen làm gì) anh mới kể lại tất cả và thành thật xin tôi tha thứ. Điều làm tôi mát ruột nhất là câu nói: «&lt;i&gt;Anh không tìm đâu được một tình yêu chân thành hơn tình yêu của em, và một người vợ dịu dàng và cao thượng như em !&lt;/i&gt;». &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Tôi chỉ thương cho cô gái kia, tuy là tình địch của tôi, nhưng tôi chỉ thấy nơi cô ta một người phụ nữ cũng có nhu cầu được yêu thương y như tôi, và cũng yêu một người đàn ông với tôi. Tôi rất thông cảm với nổi buồn và đau khổ của cô ấy khi bị thất bại trong cuộc tình này. Cô ấy đã phải nhường người cô yêu lại cho tôi, cho dù một cách bất đắc dĩ. Tôi không cảm thấy một nỗi thù hận nào mà chỉ thấy một nỗi niềm cảm thông sâu xa...Tôi muốn chồng tôi đối xử tốt với cô ấy miễn là đừng đi quá giới hạn cho phép…&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-771112447861802516?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/771112447861802516'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/771112447861802516'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/ghenmotcachkhoandung.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-1882966017849276046</id><published>2009-08-06T19:34:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T19:42:06.300-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;Cầu nguyện trong đời sống gia đình&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Cầu nguyện là gì?&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Cầu nguyện là sự gặp gỡ và đối thoại giữa Thiên Chúa và tâm hồn ta trong bầu khí yêu thương, thông cảm của tình cha con. Cầu nguyện tạo nên một tương quan thân thiện và cá nhân giữa tâm hồn ta với Thiên Chúa, là Người Cha Chung của nhân loại, rất mực yêu thương ta. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;Cầu nguyện là một cuộc gặp gỡ&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Có ba cách gặp gỡ:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;– Hai chiếc xe tình cờ đụng nhau ở ngoài đường gây ra tai nạn cũng là gặp gỡ. Hai người xa lạ cùng ngồi bên nhau trong một chuyến xe nói chuyện xã giao với nhau cũng là gặp gỡ. Hai người bạn học chung với nhau trong một lớp, thậm chí ngồi cạnh nhau suốt năm, nhưng không ưa nhau, luôn luôn khó chịu về nhau, cũng là một cách gặp gỡ, v. v… Nhưng đó chỉ là gặp gỡ thể chất, không hề có sự gặp gỡ tâm hồn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;– Có người đọc một bài báo, lấy làm tâm đắc với ý tưởng của tác giả, đồng ý tưởng, đồng lập trường với tác giả, nên cảm thấy giữa mình và tác giả có một sự đồng cảm, gần gũi, tuy dù chưa biết gì về nhau; đấy cũng là một cách gặp gỡ, v. v… Đó là gặp gỡ tinh thần.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;– Một cặp tình nhân ngồi bên nhau, tâm hồn họ dành hết cho nhau, họ chỉ nghĩ về nhau, cho dù họ không nói với nhau điều gì, vì họ đã hiểu rõ tình yêu của nhau, họ cảm thấy cả hai đã trở nên một, v. v… Đó là gặp gỡ cả tâm hồn lẫn thể chất. Đây là cách gặp gỡ tốt nhất, lý tưởng nhất, hoàn hảo nhất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có câu phương ngôn Trung Hoa nói lên hai cách gặp gỡ của con người: «&lt;i&gt;Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng&lt;/i&gt;» (có duyên với nhau thì dù cách xa nhau ngàn dậm, vẫn có thể gặp gỡ nhau; còn không có duyên với nhau thì dù có đối mặt nhau cũng không gặp được nhau).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cầu nguyện chủ yếu là gặp gỡ Thiên Chúa về tinh thần, tâm hồn. Nếu được cả hai mặt thể chất lẫn tinh thần thì thật là tuyệt vời (trường hợp rước lễ đúng nghĩa). &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;Cầu nguyện là một cuộc đối thoại&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Đối thoại là hai người nói chuyện với nhau, người này nói thì người kia nghe, và ngược lại. Một bên chỉ nói, và một bên chỉ nghe thì không phải là đối thoại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đối thoại bằng những công thức có sẵn, thì không phải là cách đối thoại đúng nghĩa. Đối thoại là để nói cho nhau nghe những điều mình có trong tâm hồn, trong trí óc: những tâm tình yêu thương, cảm phục, biết ơn, tuân phục, những tâm sự vui buồn, những thao thức suy tư, những ước vọng riêng tư, v. v…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đối thoại không nhất thiết cứ phải dùng lời nói, có thể đối thoại bằng ánh mắt, bằng cử chỉ, bằng tâm tình, bằng hành động cụ thể, v. v… Điều quan trọng là nội dung và ý nghĩa mình muốn nói lên qua những cách biểu lộ đó để người kia hiểu được mình. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold;"&gt;a) Nghe Chúa nói&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Vì thế, cầu nguyện là trước hết là nghe Chúa nói, sau là nói với Chúa. Nghe Chúa nói thì quan trọng và ích lợi hơn là nói với Chúa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;– Nghe Chúa nói là lắng nghe tiếng Chúa vang dội trong thẳm sâu tâm hồn mình, trong lương tâm mình. Có thể đọc hay suy nghĩ về những câu trong Thánh Kinh để qua đó nhận ra tiếng Chúa nói với mình. Nên nhớ: Thiên Chúa nói với con người qua Lời của Ngài trong Thánh Kinh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;– Muốn tiếng Chúa trở nên càng ngày càng rõ rệt hơn, hãy can đảm thực thi những gì Chúa nói qua tâm hồn mình. Nếu không, tiếng nói đó sẽ yếu dần và tắt hẳn. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold;"&gt;b) Nói với Chúa&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Cầu nguyện cũng là &lt;b&gt;&lt;i&gt;nói&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; với Chúa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;– Tốt nhất là &lt;b&gt;&lt;i&gt;bằng tâm tình&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; yêu thương, cảm phục, biết ơn, tuân phục, có thể diễn tả thành lời, thành bài ca, cử chỉ, hoặc hành động.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;– &lt;b&gt;&lt;i&gt;Bằng lời nói&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; (ra miệng, hoặc âm thầm trong tâm trí) để diễn tả tâm tình có thực ở bên trong. Điều quan trọng không phải là lời nói, mà là tâm tình bên trong. Lời nói mà không có tâm tình thật sự chỉ là những lời trống rỗng, không mấy giá trị.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;– &lt;b&gt;&lt;i&gt;Bằng bài ca&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;, hay câu kinh làm sẵn. Đây là cách dành cho những người mới tập sự cầu nguyện, chưa thể cầu nguyện một cách tự phát bằng chính tâm tình của mình. Không nên cầu nguyện bằng cách này hoài, mà phải tập cầu nguyện bằng những cách cao hơn. Điều quan trọng là vừa đọc vừa suy nghĩ và có tâm tình theo lời kinh hay lời ca.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;– &lt;b&gt;&lt;i&gt;Bằng cử chỉ:&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; giơ cao tay lên, chấp tay, quỳ xuống, đứng lên, cúi đầu, bái gối, lạy, nhảy múa, v. v…)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;– &lt;b&gt;&lt;i&gt;Bằng hành động&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; cụ thể: để biểu lộ tâm tình yêu thương, cảm phục, biết ơn, tuân phục… Làm việc với tinh thần tin cậy mến, với ý hướng tuân hành thánh ý Chúa, muốn làm đẹp lòng Chúa, cũng là một cách cầu nguyện rất tốt và thực tế. Vì thế, hãy biến việc làm thành cầu nguyện.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;Cầu nguyện cần thiết cho đời sống tâm linh&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Thiên Chúa là nguồn tình yêu, nguồn sự sống, nguồn trí tuệ, nguồn sức mạnh, nguồn ân sủng. Muốn nhận được những giá trị cần thiết đó, con người phải thông hiệp với nguồn của những giá trị đó là Thiên Chúa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tương tự như các dụng cụ điện, muốn nhận được năng lực để hoạt động, thì phải tiếp xúc với nguồn điện. Không tiếp xúc với nguồn điện, các dụng cụ điện không hoạt động được, trở thành bất động, vô ích. Cầu nguyện chính là tiếp xúc, thông hiệp với nguồn tình yêu, nguồn sự sống, nguồn sức mạnh thần linh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì thế, cầu nguyện được &lt;b&gt;&lt;i&gt;ví như hơi thở&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; của linh hồn. Không thở, con người không thể sống được. Cũng vậy, không cầu nguyện, linh hồn không thể sống mạnh, sống tốt lành, thánh thiện được. Nhờ cầu nguyện, linh hồn tràn đầy sức sống, tình yêu, trí tuệ, sức mạnh, và đời sống con người trở nên hạnh phúc và đầy ý nghĩa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt; Cầu nguyện cần thiết cho hạnh phúc lứa đôi&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Trong đời sống hôn nhân, muốn được hạnh phúc, hai vợ chồng phải yêu thương nhau, sống hòa hợp với nhau, đồng thời phải thành công trong việc giáo dục con cái.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;– Để yêu thương nhau trọn đời, không gì bảo đảm hơn là cả hai vợ chồng đều gắn bó với Thiên Chúa, là nguồn mạch mọi tình yêu chân chính, bằng đời sống cầu nguyện. Nhờ gắn bó với Thiên Chúa, họ học được từ nơi Ngài cách biểu lộ tình yêu: bằng sự quên mình, hy sinh và xả thân cho nhau, biết quan tâm giúp đỡ nhau. Thiên Chúa sẽ là mối dây liên kết, khiến họ gắn bó, khắn khít với nhau suốt cuộc đời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;– Để sống hòa hợp và hiệp nhất với nhau, không gì hữu hiệu hơn là cả hai đều cùng chung một lý tưởng nên trọn lành, cùng nhau bắt chước Chúa Kitô, sống đúng theo ý muốn Thiên Chúa, không làm theo ý riêng mình. Làm theo ý riêng thì hai người có thể khác nhau, ngược nhau, nhưng cùng làm theo thánh ý Chúa, thì hai người sẽ chủ trương giống nhau, sẽ cùng một ý, và sẽ hiệp nhất với nhau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;– Để giáo dục con cái một cách hữu hiệu, không gì bằng giúp chúng biết cầu nguyện, biết gắn bó với Thiên Chúa bằng chính gương sáng của mình. Lúc đó, Thiên Chúa sẽ là mẫu mực cho chúng, là người giáo dục và ban sức mạnh cho chúng, để chúng có thể sống tốt đẹp. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;font-size:130%;" &gt;Kết luận&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Thiên Chúa ở ngay trong tâm hồn ta, hiện diện nơi những người chung quanh ta, trong thiên nhiên, và trong tất cả vạn vật. Vì thế, ta cần nhận ra sự hiện diện của Ngài ở những nơi đó, để cầu nguyện, để nâng tâm hồn lên với Ngài, để gặp gỡ, tâm sự, đối thoại với Ngài. Ta có thể gặp Ngài bất cứ lúc nào, có thể có những tâm tình thích hợp đối với Ngài trong bất kỳ cảnh ngộ nào, khi vui cũng như lúc buồn, khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn, khi bình an cũng như lúc nguy hiểm. Hãy tập sống đời sống cầu nguyện, để tương quan cá nhân giữa mình với Thiên Chúa ngày càng thân mật, đậm đà hơn. Nhờ vậy, cuộc đời chúng ta sẽ hạnh phúc lâu bền.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-1882966017849276046?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/1882966017849276046'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/1882966017849276046'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/caunguyentrongdoisonggiadinh.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-3362657934230154362</id><published>2009-08-06T19:29:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T19:33:22.279-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;ĐỨC GIÊSU LÀ THỨC ĂN TÂM LINH&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;1. Hai loại sự sống, hai loại đồ ăn thức uống&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đức Giêsu nói về bánh hằng sống sau khi dân chúng đến tìm kiếm Ngài để mong Ngài làm phép lạ hóa bánh ra nhiều như Ngài vừa mới làm trước đó một ngày (x. Ga 6,1-15). Ngài biết rõ tâm ý họ khi đến với Ngài là để tìm của ăn vật chất: «&lt;i&gt;Các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê&lt;/i&gt;»(Ga 6,26). Lợi dụng việc họ tìm kiếm bánh vật chất, Đức Giêsu giới thiệu cho họ &lt;i&gt;bánh hằng sống&lt;/i&gt;hay bánh tâm linh. Cũng như khi gặp người phụ nữ Samari muốn kín nước vật chất để uống, Đức Giêsu lợi dụng cơ hội này để giới thiệu &lt;i&gt;nước hằng sống&lt;/i&gt;hay nước tâm linh. Bánh hay nước hằng sống đều chính là Đức Giêsu. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; Thông thường, con người thời nào cũng ham mê tìm của ăn thức uống vật chất, là nhu cầu cấp thiết của con người về sự sống, vì không ai sống được mà không cần ăn hoặc uống. Ngoài mục đích duy trì sự sống thể chất, con người còn muốn hưởng thụ khoái lạc trong việc ăn uống và trong mọi phương diện thể chất khác nữa. Nói chung, con người quá mải mê lo lắng cho sự sống thể chất. Nhưng con người đâu chỉ có sự sống thể chất, mà còn một sự sống khác nữa quan trọng hơn gấp bội, đó là sự sống tâm linh. Sự sống thể chất kéo dài nhiều lắm chừng trăm năm, sự sống ấy dù hạnh phúc hay đau khổ thì cũng chỉ hạnh phúc hay đau khổ khoảng trăm năm, rồi chấm dứt. Còn sự sống tâm linh, là sự sống chủ yếu của con người, ngoài việc tạo cho sự sống thể chất một ý nghĩa, và làm cho sự sống thể chất hạnh phúc hay đau khổ hơn bội phần, còn là thứ sự sống kéo dài muôn đời. Nếu đời sống tâm linh đau khổ thì sẽ là đau khổ muôn đời, và nếu nó hạnh phúc thì cũng sẽ hạnh phúc muôn đời. Do đó, đúng ra con người phải quan tâm tới sự sống tâm linh nhiều hơn bội phần. Nếu sự sống thể chất có thức ăn thức uống để nuôi dưỡng và phát triển nó, thì sự sống tâm linh cũng có đồ ăn và thức uống riêngcủa nó. Đức Giêsu muốn giới thiệu và giúp con người ý thức về thứ đồ ăn thức uống nuôi dưỡng sự sống tâm linh ấy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;2. Đồ ăn thức uống tâm linh&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Khi giới thiệu &lt;b&gt;&lt;i&gt;nước hằng sống&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;, Đức Giêsu nói với người phụ nữ Samari: «&lt;i&gt;Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời&lt;/i&gt;»(Ga 4,14). Lần này, Đức Giêsu nói về &lt;b&gt;&lt;i&gt;bánh hằng sống&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;:«&lt;i&gt;Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống&lt;/i&gt;»(Ga 6,51). Nghe câu ấy, lập tức người Do Thái hiểu ngay theo nghĩa đen: «&lt;i&gt;Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?&lt;/i&gt;» (Ga 6,52). Cũng tương tự như người phụ nữ Samari: «&lt;i&gt;Xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước&lt;/i&gt;» (Ga 4,15). Ngay cả các tông đồ đã được Đức Giêsu giáo dục mấy năm, khi nghe Ngài nói: «&lt;i&gt;Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết&lt;/i&gt;» (Ga 4,32), cũng chỉ biết hiểu theo nghĩa đen. Họ sầm xì với nhau: «&lt;i&gt;Đã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng?&lt;/i&gt;» (Ga 3,33). Nhưng Đức Giêsu cho biết chữ «&lt;i&gt;lương thực&lt;/i&gt;» mà Ngài dùng ở đây không có nghĩa vật chất: «&lt;i&gt;Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người&lt;/i&gt;»(Ga 4,34).&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Người hướng về vật chất mà hiểu về tâm linh thì ngây ngô làm sao! Làm sao tâm linh lại có thể sống bằng thức ăn vật chất được? Thức ăn cho tâm linh đương nhiên cũng phải là tâm linh! Và chỉ tâm linh mới ăn được thức ăn tâm linh thôi! Thể xác làm sao ăn được thức ăn tâm linh?Thật vậy, giả như Đức Giêsu có lấy thịt và máu vật chất trong thân xác của Ngài cho con người ăn, thì thịt và máu ấy chỉ có thể nuôi sống thể xác họ, chứ làm sao nuôi sống tâm linh họ được? Cũng tương tự như việc gặp gỡ Đức Giêsu: gặp gỡ Ngài chỉ là gặp gỡ đích thực và có ích lợi nếu sự gặp gỡ đó là gặp gỡ bằng tâm linh. Nếu chỉ gặp gỡ mặt thể chất thì chẳng ích lợi gì cho tâm linh cả. Biết bao kinh sư Do Thái xưa đã từng gặp Ngài, nói chuyện với Ngài nhiều lần, nhưng sự gặp gỡ ấy có ích lợi gì cho tâm linh họ đâu?! Vì «&lt;i&gt;hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng&lt;/i&gt;» (=Có duyên thì dù ở xa nhau ngàn dặm vẫn có thể gặp nhau, không có duyên thì dù có đối diện cũng không gặp nhau). Có duyên với nhau thì đã là gặp gỡ nhau trong tâm linh rồi!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;3. Đức Giêsu là lương thực tâm linh&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đức Giêsu nói: «&lt;i&gt;Thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy&lt;/i&gt;»(Ga 6,55-56). Câu này phải hiểu thế nào? – Thịt và máu là cái gì chính yếu nhất cấu tạo nên con người, nên nó tượng trưng cho bản thân con người ấy. Thức ăn là vật dùng để nuôi sống. Nó hiện hữu không vì chính nó, mà hoàn toàn vì sự sống của người ăn nó. Không gì mang tính vị tha bằng thức ăn. Đức Giêsu hiện hữu tại trần gian không phải vì bản thân Ngài, mà vì sự sống vĩnh cửu của con người. Nên một cách nào đó, Ngài chính là thức ăn cho sự sống vĩnh cửu của trần gian. Ý nghĩa ấy còn trở nên rõ ràng hơn khi Ngài nói trong bữa tiệc ly: «&lt;i&gt;Đây là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì anh em&lt;/i&gt;», «&lt;i&gt;Đây là Máu Thầy, sẽ đổ ra cho anh em và nhiều người được khỏi tội&lt;/i&gt;». Chung quy lại là Ngài chết vì sự sống của con người. Vì thế, Ngài đã trở nên của ăn để nhân loại được sống. Ngài đã trở nên «&lt;i&gt;chiếc bánh bị ăn&lt;/i&gt;», nói theo ngôn từ của linh mục Prado.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;4. Phải dùng thức ăn tâm linh thế nào?&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đành rằng Đức Giêsu chính là lương thực tâm linh. Nhưng ăn Ngài thế nào là cả một vấn đề cần phải nắm vững. Nhiều Kitô hữu quan niệm rằng cứ nuốt Đức Giêsu vào bụng một cách vật chất dưới hình dạng bánh thánh, thì chính là ăn Ngài, nhờ đó mà ích lợi cho linh hồn và đời sống tâm linh mình. Thực ra hành động ăn Đức Giêsu dưới dạng bánh thánh chỉ là dấu chỉ hữu hình bề ngoài cho việc ăn Ngài một cách tâm linh xảy ra ở trong nội tâm. Điều quan trọng là phải có hành động ăn Ngài một cách tâm linh ở bên trong thì dấu chỉ bên ngoài kia mới thật sự có ý nghĩa và đem lại lợi ích thật sự cho tâm linh.&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Ăn uống Mình và Máu Đức Giêsu chính là &lt;b&gt;&lt;i&gt;nội tâm hóa&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;i&gt; &lt;/i&gt;Ngài, &lt;b&gt;&lt;i&gt;biến Ngài thành bản thân ta&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt; • &lt;i&gt; Nội tâm hóa Ngài &lt;/i&gt;&lt;/b&gt; là gì? – Trước đây, ta quan niệm Đức Giêsu như là một con người hoàn toàn ở bên ngoài ta. Việc Ngài sinh ra, sống, chịu đau khổ, chết đi và sống lại đều là những biến cố độc lập xảy ra bên ngoài bản thân ta, tương tự như bao biến cố lịch sử khác. Nội tâm hóa Đức Giêsu là làm cho Ngài trở thành thực tại sống động ở ngay trong ta, có khả năng ảnh hưởng thật sự trên mọi quan niệm, tư tưởng, lời nói, hành vi của ta. Những biến cố trong cuộc đời Ngài không còn là những biến cố xảy ra trong quá khứ bên ngoài ta, mà là &lt;i&gt;đang xảy ra &lt;/i&gt;cách sống động trong ta, &lt;i&gt;tại đây và lúc này&lt;/i&gt; . &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt; • &lt;i&gt;Biến Ngài thành bản thân ta &lt;/i&gt; &lt;/b&gt; là gì? – Khi ta ăn một thức ăn gì, thức ăn đó sẽ được tiêu hóa để trở thành máu xương, da thịt của ta. Nghĩa là trở thành cái gì đó của ta, thành bản thân ta. Cũng vậy, ăn Đức Giêsu là biến Đức Giêsu trở thành một phần của bản thân ta . Nghĩa là: con người của Ngài, cùng với quan niệm, tư tưởng, cách nói năng, cách hành xử thấm nhuần yêu thương của Ngài sẽ trở thành con người ta, thành quan niệm, tư tưởng, cách nói năng, cách hành xử thấm nhuần yêu thương của ta . Và đến một lúc nào đó, ta có thể nói được: «&lt;i&gt;Tôi sống, nhưng không còn là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi&lt;/i&gt;» (Gl 2,20).&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Cuối cùng, ta trở thành một con người được nội tâm hóa, được tâm linh hóa, hay được kitô hóa, thành một «&lt;i&gt;con người mới&lt;/i&gt;» (Ep 4,24; Cl 3,10), «&lt;i&gt;thụ tạo mới&lt;/i&gt;» (2Cr 5,17; Gl 6,15), với một «&lt;i&gt;đời sống mới&lt;/i&gt;» (Rm 6,4; 8,11) và «&lt;i&gt;tinh thần mới&lt;/i&gt;» (Rm 7,6), chủ yếu «&lt;i&gt;sống theo thần khí&lt;/i&gt;» hơn là «&lt;i&gt;sống theo xác thịt&lt;/i&gt;» (Rm 8,4-6; 1Cr 3,1; Gl 5,17). Lúc đó ta mới cảm nghiệm được &lt;i&gt;thiên đàng tại thế &lt;/i&gt;là gì? Và Thiên Chúa hay Đức Giêsu dịu ngọt dường bao!&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đức Giêsu chính là của ăn tâm linh . Biết bao người biết rất rõ điều ấy, nhưng đã hiểu điều ấy một cách rất vật chất, nên đã chẳng «&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;» được Ngài. Vì «&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;» Ngài một cách rất vật chất, nên suốt bao năm «&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;» Ngài, tâm linh ta chẳng tiến bộ được bao nhiêu. Ta vẫn «&lt;i&gt;sống theo xác thịt&lt;/i&gt;» chẳng khác gì bao người chưa hề «&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;» Ngài. Tệ nhất là thay vì «&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;» Ngài , hoặc bắt chước Ngài trở nên «&lt;i&gt;bánh&lt;/i&gt;» cho người khác «&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;» (ý tưởng của linh mục Prado), thì ta lại «&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;» người khác, bắt người khác phải hy sinh và chịu đau khổ, thiệt thòi vì mình . Điều kỳ diệu là tâm linh ta chỉ mạnh mẽ lên khi ta «&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;» Ngài hoặc trở nên «&lt;i&gt;bánh&lt;/i&gt;» cho người khác «&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;» mình, và trở nên yếu đuối hoặc bị bệnh trầm trọng khi ta lại «&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;» người khác . Xin Chúa giúp chúng ta biết cách «&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;» thức ăn tâm linh bằng chính tâm linh của ta chứ không phải bằng thể xác của ta; đồng thời biết trở nên «&lt;i&gt;bánh&lt;/i&gt;» cho mọi người cùng «&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;». Có thế ta mới nhận được sức mạnh tâm linh thật sự từ Thiên Chúa, qua Đức Giêsu. &lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-3362657934230154362?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/3362657934230154362'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/3362657934230154362'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/ducgiesulathucantamlinh.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-3475730855818954883</id><published>2009-08-06T19:21:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T19:27:49.722-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;Cần quan niệm cho đúng&lt;br /&gt;về bí tích Thánh Thể&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;1. “&lt;i&gt;Thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống&lt;/i&gt;”&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Như lời xác nhận của Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay, thì bản thân Ngài chính là lương thực nuôi dưỡng và bồi bổ tâm linh con người. Vấn đề mà chúng ta cần phải đặt ra hôm nay không còn là lý giải chân lý ấy nữa, mà là áp dụng chân lý ấy vào đời sống tâm linh thực tế của chúng ta. Cả đời người Kitô hữu từ lúc rước lễ lần đầu đến lúc chết, việc áp dụng chân lý này trong đời sống tâm linh luôn luôn được những người hướng dẫn tâm linh nhắc nhở, khuyến khích thực hiện bằng việc rước lễ, tức rước Mình Máu Thánh Đức Giêsu.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Tuy nhiên, lâu lâu chúng ta cũng cần phải nhìn lại xem việc áp dụng chân lý quan trọng ấy có thật sự đem lại kết quả thực tế trong đời sống chúng ta chưa, và kết quả thế nào, có thật sự thỏa mãn chúng ta đúng như lời Đức Giêsu hứa chưa. Nếu quả thực sau nhiều năm rước Mình và Máu Thánh Đức Giêsu vào lòng mà chúng ta cảm thấy có tiến bộ thật sự trong đời sống tâm linh, thì đó là một điều hết sức đáng mừng. Nhưng nếu không được như vậy thì chúng ta cần phải xét lại. Cũng tương tự như khi uống một loại thuốc bổ được mọi người nói là thần dược một thời gian mà không thấy có kết quả gì khác lạ hơn là khi không uống, ắt nhiên ta phải lấy làm lạ, và phải đặt lại vấn đề. Có thể lời người ta ca tụng về loại thuốc ấy là sai sự thật, nhưng cũng có thể là ta đã sử dụng không đúng cách loại thuốc ấy.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Là người Kitô hữu hay tu sĩ lâu năm, nếu ta đã rước lễ hàng ngày hay hàng tuần suốt mấy chục năm trường rồi, mà ta vẫn không thấy mình tiến bộ về mặt tâm linh hơn những người ngoại, hay hơn những người khô khan ít lãnh nhận bí tích, thì ta cần đặt vấn đề lại. Trong thời đại khoa học thực nghiệm này, sự tiến bộ tâm linh nếu có ắt phải được được chứng tỏ bằng những sự kiện rõ rệt như: khả năng yêu thương ngày càng rộng rãi và bao trùm hơn, tính vị tha ngày càng nhiều hơn, có khả năng hy sinh cho tha nhân nhiều hơn, nội lực tinh thần mạnh mẽ hơn, sự khôn ngoan kiểu Thiên Chúa (chứ không phải kiểu trần gian) tăng triển hơn, bình an và hạnh phúc trong tâm hồn nhiều hơn và biểu hiện rõ rệt hơn, v.v… Nếu không có được những dữ kiện cụ thể như thế, chúng ta nên thành thật nhìn nhận rằng mình đã không tiến bộ tâm linh gì cả hay bao nhiêu. Lúc đó, chúng ta cần đặt lại vấn đề quan niệm về bí tích Thánh Thể và cách rước Chúa của chúng ta.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;2. Cần quan niệm cho đúng về bí tích Thánh Thể&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;a) Bí tích Thánh Thể không phải là bùa chú hay phù phép&lt;/span&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Nhiều Kitô hữu quan niệm Mình Máu Thánh Chúa tương tự như một thứ bùa chú hay phù phép, cứ việc nuốt vào bụng là tự động sinh hiệu quả mong muốn. Quan niệm như thế thì thật là sai lầm. Họ quan niệm Thánh Thể không khác gì những yêu tinh trong truyện Tôn Ngộ Không quan niệm về thịt Đường Tăng, cho rằng hễ ăn được thịt của ông thì sẽ tự nhiên sống lâu trường thọ. Nếu có khác thì chỉ khác ở chỗ thay vì trường thọ về mặt thể chất thì được trường thọ hay phát triển về mặt tâm linh, mà không cần phải có một ý thức hay nỗ lực nào.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;b) Thức ăn tâm linh thì phải ăn bằng tâm linh&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Thực ra, Mình Máu Thánh Chúa hay thịt và máu Đức Giêsu là của ăn tâm linh bổ dưỡng tâm hồn. Thức ăn tâm linh thì chủ yếu phải ăn bằng tâm linh chứ không phải bằng thể xác. Điều quan trọng để được bổ dưỡng tâm linh là phải gặp gỡ được Đức Giêsu và nhận được sức mạnh từ nơi Ngài. Việc gặp gỡ Ngài ở đây cũng cần được hiểu là gặp gỡ bằng tâm linh chứ không phải bằng thể chất. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;c) Gặp gỡ Thiên Chúa phải gặp gỡ bằng tâm linh &lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Nếu chỉ gặp gỡ bằng thể chất mà thôi thì hoàn toàn chẳng ích lợi gì. Các kinh sư Do-thái xưa cũng gặp gỡ và nói chuyện với Đức Giêsu nhiều lần, nhưng họ có được biến đổi gì đâu, trái lại họ chỉ trở nên tồi tệ, cứng lòng và độc ác hơn. Một chàng trai ăn chơi hưởng lạc trong ổ gái điếm, tuy chung đụng xác thịt với các cô gái, nhưng như thế đâu phải là gặp gỡ họ đúng nghĩa. Trong một đống gạch, hai viên gạch xếp cạnh nhau hay chồng lên nhau, tuy có trực tiếp tiếp xúc với nhau thật lâu, nhưng như thế đâu thể gọi là gặp gỡ. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Sự gặp gỡ đòi hỏi một thái độ nội tâm hơn là tiếp xúc bằng thể chất. Văn chương Việt Namcó câu:  “&lt;i&gt;Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng&lt;/i&gt;”  (có duyên với nhau thì dù xa cách ngàn dặm vẫn có thể gặp nhau, còn không có duyên với nhau thì dù có đối diện với nhau cũng chẳng thể gặp nhau). Vì thế, có biết bao Kitô hữu nuốt Thánh Thể vào bụng hằng ngày mà chưa bao giờ thật sự gặp được Đức Giêsu. Vì thế, họ có rước lễ hằng ngày suốt cả cuộc đời thì đời sống tâm linh của họ chẳng hề thay đổi, bởi họ chẳng hề được nuôi dưỡng bằng Thánh Thể. Nếu thật sự gặp gỡ Đức Giêsu, tâm hồn ta chắc chắn phải được biến đổi. Thời Ngài còn tại thế, có những người chỉ cần thật sự gặp gỡ Ngài một lần là được biến đổi hoàn toàn như Da-kêu (Lc 19,1-10), người trộm lành (Lc 23,39-43)…&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;d) Muốn thật sự gặp gỡ Đức Giêsu, phải có tình yêu &lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Theo câu nói văn chương trên thì điều quan trọng để thật sự gặp nhau là phải có “&lt;i&gt;duyên&lt;/i&gt;” với nhau. Muốn gặp Chúa, kết hiệp hay nên một với Ngài thì phải có “&lt;i&gt;duyên&lt;/i&gt;” với Ngài, nghĩa là phải có một sự đồng cảm hay một sự giống nhau nào đấy với Ngài. Ta thấy dầu và nước không thể hòa tan với nhau được, vì hóa tính của hai chất không giống nhau. Hai chất phải có những hóa tính căn bản giống nhau mới hòa tan với nhau được. Cũng vậy,  “&lt;i&gt;Thiên Chúa là tình yêu&lt;/i&gt;”  (1Ga 4,8.16), nên muốn gặp Ngài hay kết hiệp với Ngài thì chính mình cũng phải có ít nhiều tình yêu, có lòng vị tha, có thiện chí muốn gặp gỡ Ngài bằng bất cứ giá nào. Một người có tính ích kỷ, lãnh đạm với mọi người, hay có tính ganh tị, ghen ghét thì khó mà gặp được Chúa, dẫu họ có rước lễ cả chục lần một ngày. Thánh Gioan xác định:  “&lt;i&gt;Ai không yêu thương, thì không biết&lt;/i&gt;&lt;i&gt; (=kinh nghiệm về) Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu&lt;/i&gt;”(1Ga 4,8);  “&lt;i&gt;Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta&lt;/i&gt;”  (4,12);  “&lt;i&gt;Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao Thiên Chúa ở trong người ấy được?&lt;/i&gt;”(3,17). Người không có tình thương thì có nuốt Thánh Thể vào bụng, Đức Giêsu cũng không ở trong người ấy được.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;3. Phương cách ”ăn” và “&lt;i&gt;uống&lt;/i&gt;” Mình và Máu Thánh Đức Giêsu &lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Ăn theo nghĩa vật chất đòi hỏi một số tác động như đưa thức ăn vào miệng, nhai, nuốt, và sau đó là cả một tiến trình làm việc âm thầm của dạ dày, gan, mật, ruột… để biến thức ăn thành chất bổ dưỡng. Tất cả đều là tác động thể chất. Còn “&lt;i&gt;ăn thịt&lt;/i&gt;” và “&lt;i&gt;uống máu&lt;/i&gt;” Đức Giêsu hoàn toàn là những tác động tâm linh. Hình bánh, rượu và tác động nuốt vào bụng đều là những dấu chỉ mang tính bí tích nói lên một thực tại tâm linh có thực ở đằng sau. Nếu chỉ ăn hay uống Ngài theo kiểu vật chất thì chẳng khác gì ăn một mẩu bánh hay uống một ly rượu, chẳng ích lợi gì cho tâm linh ta cả. Do đó, cần phải biết “&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;” hay “&lt;i&gt;uống&lt;/i&gt;” Ngài theo kiểu tâm linh. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Tôi đã trình bày vấn đề này trong hai bài chia sẻ trước (Chúa Nhật 18 và 19 Thường Niên). Cách “&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;” hay “&lt;i&gt;uống&lt;/i&gt;” ấy hệ tại việc ý thức thường xuyên Đức Giêsu là Thiên Chúa với bản chất thần linh, là nguồn sống, nguồn tình yêu, nguồn sức mạnh, nguồn trí tuệ, nguồn của tất cả mọi sự thiện hảo trên trời dưới đất. Bản chất thần linh và tất cả những nguồn này đang hiện diện ngay trong bản thân ta, sẵn sàng lan tràn sang bản chất của ta, biến đổi bản chất ta nên giống Ngài, làm ta nên mạnh mẽ, tràn đầy sức sống, tình yêu, trí tuệ, can đảm, v.v… &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Ý thức thường xuyên như thế ta sẽ dần dần thấy tâm linh ta được biến đổi thật sự một cách có thể kiểm chứng được. Và sự biến đổi đó sẽ là một thực chứng, một kinh nghiệm tâm linh làm nền tảng cho đời sống thần linh của ta. Đời sống tâm linh phải được xây dựng trên những thực chứng về Thiên Chúa, về sức mạnh của Ngài. Nếu không, nó chỉ là một mớ lý thuyết không có khả năng đem lại lợi ích tâm linh thực tế.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-3475730855818954883?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/3475730855818954883'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/3475730855818954883'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/canquanniemdungvethanhthe.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-7122502253255332772</id><published>2009-08-06T19:12:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T19:19:46.735-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;Ăn “&lt;i&gt;bánh trường sinh&lt;/i&gt;” là gì?&lt;br /&gt;bằng cách nào? &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;1. Đời sống tâm linh, cấp độ sống cao nhất của con người&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Tất cả mọi sinh vật đều có sự sống. Nhưng sự sống ấy có nhiều cấp độ khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Sự sống càng cao thì càng có những khả năng đặc biệt mà sự sống ở bậc thấp hơn không có, hay có rất ít. Cùng là sống, nhưng cái sống của một cây cổ thụ khác với cái sống của một cây cỏ, của một bụi gai; cái sống của con sư tử, một con cá heo khác với cái sống của con chó, con heo, và càng khác với cái sống của con giun, con dế. Cao hơn nữa là cái sống của con người. Và cao hơn cái sống của con người là cái sống của thiên thần, và cao nhất là cái sống của Thiên Chúa, nguồn phát sinh mọi sự sống. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Loài thực vật có khả năng tự dinh dưỡng, tự thích ứng, tự lớn lên, tự sinh sản, nhưng khả năng cảm giác rất ít. Loài động vật có đủ mọi khả năng của loài thực vật, nhưng khả năng cảm giác cao hơn rất nhiều, và còn có khả năng tự di chuyển. Nhưng các loài thú có rất ít trí tuệ, khả năng ý thức, không có khả năng tự quyết định hay sự tự do, chỉ biết làm theo bản năng. Còn con người có nhiều khả năng vượt rất xa loài động vật. Con người có đời sống tinh thần, trí thức, tình cảm, có khả năng tự do và tự quyết định, và nhất là có đời sống tâm linh. Đời sống tâm linh càng phát triển thì con người càng khác xa con vật và càng giống Thiên Chúa hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;2. Đời sống tâm linh phát triển và hạnh phúc đích thực&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Con người chỉ được hạnh phúc tràn đầy khi đạt được sự phát triển cao nhất của mình. Con người có đời sống tâm linh mà các loài động vật khác không có. Khi phát triển những khả năng cao cấp của mình như tinh thần, tình cảm, trí tuệ, thì con người có khả năng hạnh phúc cao hơn tất cả mọi loài, nhưng hạnh phúc ấy chưa tràn đầy, chưa đạt tới viên mãn. Chỉ khi nào phát triển tâm linh đầy đủ, con người mới đạt được giá trị cao nhất của mình, và mới được hạnh phúc một cách viên mãn.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Chưa được hạnh phúc viên mãn, con người sẽ không bao giờ thỏa mãn. Khi chưa đạt được hạnh phúc viên mãn, thì dù có đạt được những điều mình đang mong ước, con người cũng chỉ tạm hạnh phúc trong chốc lát, để rồi sau đó lại khao khát một cái khác cao hơn; nếu không đạt được cái cao hơn đó thì con người lại rơi vào đau khổ. Những khao khát bình thường ấy chỉ giống như những ly nước, những chén thức ăn. Uống xong ly nước ấy tuy đã khát, ăn hết thức ăn ấy tuy no và hết đói, nhưng rồi sẽ lại khát, lại đói nữa: “&lt;i&gt;Ai uống nước này, sẽ lại khát&lt;/i&gt;” (Ga 4,13). Cứ thế, chẳng bao giờ con người hết đói và hết khát với những thức ăn thức uống bình thường ấy. Và con người cứ phải kiếm nước kiếm thức ăn mãi. Còn đói khát những ước vọng bình thường ấy, con người còn phải gặp biết bao đau khổ.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Những hạnh phúc do sự thỏa mãn những ước vọng ấy chỉ giống như một người bị bệnh ngứa, khi ngứa lên thì gãi hay hơ nóng chỗ ngứa, tuy đã ngứa nhưng chỉ được một thời gian rất ngắn, để rồi sau đó sẽ còn ngứa dài dài nữa. Chỉ khi nào chữa cho hết bệnh ngứa, thì con người mới thật sự thoải mái. Cũng vậy, chỉ khi nào hết ích kỷ, biết sống vị tha, có đời sống tâm linh phát triển, con người mới thật sự hết đau khổ và được hạnh phúc đích thật, thứ hạnh phúc không ai lấy mất được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;3. Con người mải mê tìm những hạnh phúc chóng qua&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Khi con người chưa cảm nghiệm được hạnh phúc đích thực của một tâm linh phát triển, thì họ chỉ mải miết tìm kiếm những hạnh phúc chóng qua, nơi của cải, nhà cửa, địa vị, quyền lực… Đạt được hạnh phúc này thì lại khao khát hạnh phúc khác. Khi phải đi bộ thì họ mong có chiếc xe đạp, tưởng rằng có xe đạp thì sẽ hạnh phúc lắm. Nhưng khi có xe đạp thì họ chẳng hạnh phúc, vì họ lại mong ước chiếc xe máy… rồi xe hơi… rồi nhà cao cửa rộng… rồi địa vị quyền lực… Nhưng dẫu có trở thành một ông vua hay bà hoàng, họ vẫn cảm thấy đau khổ, và chẳng hạnh phúc. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu khuyên người ta không nên tìm thứ  “&lt;i&gt;lương thực mau hư nát&lt;/i&gt;”là những cái chỉ đem lại những hạnh phúc thoáng qua, mà hãy tìm loại  “&lt;i&gt;lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh&lt;/i&gt;”. “&lt;i&gt;Lương thực thường tồn&lt;/i&gt;” ấy chính là những gì nuôi sống đời sống tâm linh, làm cho sự sống ấy phát triển. Khi đời sống tâm linh phát triển, con người sẽ hạnh phúc mãi, và không gì trong cuộc đời có thể làm họ đau khổ hay mất hạnh phúc. Đó chính là thứ “&lt;i&gt;nước&lt;/i&gt;” mà Đức Giêsu hứa ban cho ta:  “&lt;i&gt;Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời&lt;/i&gt;”  (Ga 4,14).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;4. Lương thực trường sinh ấy chính là Đức Giêsu&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Để có đời sống tâm linh phát triển, nghĩa là để có hạnh phúc đích thực và lâu bền, Đức Giêsu giới thiệu cho chúng ta thứ  “&lt;i&gt;lương thực thường tồn&lt;/i&gt;”hay  “&lt;i&gt;bánh trường sinh&lt;/i&gt;”, khiến chúng ta một khi đã “&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;” vào thì sẽ được thỏa mãn, hạnh phúc, không còn khao khát gì hơn nữa. “&lt;i&gt;Lương thực&lt;/i&gt;” này khác với thứ “&lt;i&gt;lương thực mau hư nát&lt;/i&gt;”, “&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;” vào rồi là chán ngay, và muốn “&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;” thứ khác. Lương thực thường tồn ấy chính là Đức Giêsu. Ngài nói:  “&lt;i&gt;Tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!&lt;/i&gt;”.Rất nhiều Kitô hữu hiểu câu này một cách rất vật chất rằng để đạt được đời sống trường sinh, ta chỉ việc rước lễ, tức rước Mình Máu Đức Giêsu vào bụng là xong. Nhưng trong đời tôi, tôi thấy biết bao Kitô hữu rước lễ hằng ngày và suốt đời mà có biến đổi hay cảm thấy hạnh phúc đích thực và lâu dài bao giờ đâu! Điều đó khiến tôi phải hiểu câu nói trên theo cách khác. Tôi đã sống và áp dụng theo cách hiểu mới ấy, và tôi cảm thấy đời tôi ngày càng thấy mình hạnh phúc hơn.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Chúng ta chỉ “&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;” được “&lt;i&gt;bánh trường sinh&lt;/i&gt;” là chính Đức Giêsu bằng cách làm cho tâm linh ta được cấu tạo bởi những gì đã làm nên con người Đức Giêsu. Ăn thức ăn nào là nhận chất bổ, năng lực từ thức ăn ấy. Đức Giêsu là năng lực thần linh, nên “&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;” Đức Giêsu là đón nhận vào mình năng lực thần linh của Ngài. Đương nhiên “&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;” Đức Giêsu không phải là “&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;” bằng miệng, bằng thể xác, mà bằng ý thức và tâm linh của ta. Thể xác không thể nào ăn được của ăn tâm linh. Muốn “&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;” Đức Giêsu, tức “&lt;i&gt;bánh trường sinh&lt;/i&gt;”, ta phải ý thức sự hiện diện đích thực và thường hằng của Đức Giêsu trong tâm hồn ta. Ngài luôn hiện diện trong ta, nhưng ta thường không ý thức sự hiện diện ấy. “&lt;i&gt;Ăn&lt;/i&gt;” Ngài là ý thức rằng Ngài là một nguồn năng lực vô tận về tình yêu, trí tuệ, sức mạnh, can đảm, hạnh phúc… luôn hiện diện trong ta, sẵn sàng thể hiện tràn đầy qua con người của ta, qua tư tưởng, lời nói và hành động của ta. “&lt;i&gt;Ăn&lt;/i&gt;” Ngài thật sự sẽ làm cho đời sống của ta trở nên hạnh phúc và khởi sắc hơn bao giờ hết. Đó cũng chính là kinh nghiệm của tôi, người viết bài này, xin chia sẻ với mọi người.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-7122502253255332772?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/7122502253255332772'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/7122502253255332772'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/anbanhtruongsinhlagicachnao.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-6840859550747578318</id><published>2009-08-06T19:07:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T19:10:35.901-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;“&lt;i&gt;Ăn thịt&lt;/i&gt;” và “&lt;i&gt;uống máu&lt;/i&gt;” Đức Giêsu là gì?&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt; 1. Tiền kiến sai lầm về những thực tại siêu việt&lt;br /&gt;(do hiểu Kinh Thánh theo nghĩa vật chất)&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Chúng ta hiện nay biết Đức Giêsu là một con người siêu việt, là thần thánh, vì Ngài là Con Thiên Chúa, cũng là Thiên Chúa. Nhưng những người Do-thái xưa lại thấy Đức Giêsu là một con người rất tầm thường, vì Ngài xuất thân từ gia đình nghèo khó, lại kém học thức…  “&lt;i&gt;Ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: &lt;/i&gt;“&lt;i&gt;Tôi từ trời xuống?&lt;/i&gt;”“&lt;i&gt;Đối với họ, và cả chúng ta nếu ở vào trường hợp của họ, thật khó mà chấp nhận Ngài là một ngôn sứ, nói gì đến chuyện chấp nhận Ngài là Con Thiên Chúa. Lý do khiến họ không chấp nhận không phải là phi lý. Theo lẽ thường, họ không chấp nhận thì hữu lý hơn là chấp nhận. Họ hiểu Thánh Kinh hoàn toàn theo nghĩa đen: một người từ trời xuống có nghĩa là một người thật sự &lt;/i&gt;“&lt;i&gt;từ trời xuống&lt;/i&gt;” hiểu theo nghĩa vật chất, chứ không phải là một người sinh ra từ bụng mẹ. Họ hiểu “&lt;i&gt;trời&lt;/i&gt;” theo nghĩa vật chất là bầu trời, không trung. Chính vì thế, họ không hiểu được chân lý thâm sâu trong câu nói ấy của Đức Giêsu. Họ không ngờ được con người từ trời xuống lại chẳng có vẻ “&lt;i&gt;từ trời xuống&lt;/i&gt;” (theo nghĩa vật chất) một chút nào. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Những câu nói lên những chân lý quan trọng trong Thánh Kinh đều cần phải hiểu theo nghĩa tâm linh hơn theo nghĩa vật chất. Trong lịch sử, các nhà thần học trong Giáo Hội đã bị “&lt;i&gt;hố&lt;/i&gt;” nhiều lần vì hiểu Kinh Thánh theo nghĩa vật chất, để rồi về sau phải chỉnh lại cách hiểu của mình theo nghĩa tâm linh. Chẳng hạn việc hiểu trình tự sáng tạo vũ trụ và con người trong sách Sáng thế ký, việc hiểu câu Kinh Thánh Gs 10,12 đến nỗi đi đến việc kết án Côpécnic và Galilê…&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Trong bài Tin Mừng hôm nay, ta lại gặp nhiều lần từ ngữ “&lt;i&gt;từ trời xuống&lt;/i&gt;”: có từ được áp dụng vào Đức Giêsu, có từ được áp dụng vào bánh trường sinh. Nếu trong áp dụng trước người ta hiểu theo nghĩa vật chất thì bị sai lầm, ắt trong áp dụng sau việc hiểu theo nghĩa vật chất cũng rất có thể dẫn đến sai lầm. Điều quan trọng là chúng ta phải dựa vào sự kiện, vào thực nghiệm tâm linh trong thực tế đời sống, để biết hiểu theo cách nào là đúng. Chẳng hạn hai câu:  “&lt;i&gt;Tổ tiên các ông đã ăn manna trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết&lt;/i&gt;”.Chữ “&lt;i&gt;chết&lt;/i&gt;” trong câu trước – ứng với việc ăn manna – buộc phải hiểu theo nghĩa vật chất, nghĩa là chết về thể xác. Còn chữ “&lt;i&gt;chết&lt;/i&gt;” trong câu sau – ứng với việc ăn “&lt;i&gt;bánh từ trời xuống&lt;/i&gt;” – buộc phải hiểu theo nghĩa tâm linh, vì không có ý nói đến cái chết thể chất, bởi chưa ai ở trần gian này thoát chết về thể chất cả, kể cả Đức Giêsu.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Tương tự, những câu trong bài Tin Mừng hôm nay như: “&lt;i&gt;Tôi là bánh trường sinh&lt;/i&gt;”, “&lt;i&gt;ai ăn thì khỏi phải chết&lt;/i&gt;”, “&lt;i&gt;bánh hằng sống từ trời xuống&lt;/i&gt;”, “&lt;i&gt;ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời&lt;/i&gt;”, “&lt;i&gt;bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây&lt;/i&gt;”, sẽ thật là ngộ nghĩnh và phi lý nếu hiểu theo nghĩa vật chất, nhưng sẽ trở nên hữu lý và đúng với thực nghiệm tâm linh khi hiểu theo nghĩa tâm linh. Những câu này chính là những chân lý quan trọng trong Kitô giáo mà mọi Kitô hữu cần áp dụng trong đời sống tâm linh để đời sống nội tâm được nuôi dưỡng và phát triển mạnh mẽ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;2. Đức Giêsu là “&lt;i&gt;bánh hằng sống từ trời xuống&lt;/i&gt;”&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;a) Cần phải hiểu câu này theo nghĩa tâm linh &lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu tuyên bố:  “&lt;i&gt;Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời&lt;/i&gt;”.Chắc chắn, đối với chúng ta, những người Kitô hữu, lời Ngài nói ắt phải là chân lý. Và đây là một chân lý quan trọng đem lại sự sống và phát triển tâm linh cho chúng ta. Vì thế, chúng ta phải triệt để áp dụng chân lý này vào đời sống. Chắc hẳn không ai trong chúng ta hiểu câu nói này theo kiểu các yêu tinh trong truyện Tôn Ngộ Không hiểu về thịt của Đường Tăng Tam Tạng. Chúng quyết tâm bắt cho được Đường Tăng để ăn thịt, với niềm tin tưởng rằng ăn thịt ông thì sẽ được sống lâu, thậm chí sẽ không chết. Tôi nghĩ: giả như có ai giết Đức Giêsu để ăn thịt Ngài (theo kiểu các yêu tinh ăn thịt Đường Tăng) thì người ấy vẫn chết như thường, và về mặt tâm linh thì cũng chẳng được ích lợi gì. Vì câu nói  “&lt;i&gt;thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống&lt;/i&gt;” của Đức Giêsu không thể hiểu theo nghĩa vật chất. “&lt;i&gt;Thịt&lt;/i&gt;” và “&lt;i&gt;máu&lt;/i&gt;” ở đây không phải là thịt và máu huyết vật chất, “&lt;i&gt;của ăn&lt;/i&gt;” và “&lt;i&gt;của uống&lt;/i&gt;” ở đây cũng không phải là của ăn và của uống vật chất. Tất cả những từ trên đều phải hiểu theo nghĩa tâm linh. Và nếu hiểu theo nghĩa tâm linh, thì Đức Giêsu chính là lương thực đem lại sự sống và sự phát triển tâm linh thật sự.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Hiện nay, không ai có thể gặp hay tiếp xúc với Đức Giêsu bằng xương bằng thịt như các tông đồ ngày xưa cả. Nhưng Đức Giêsu vẫn luôn hiện diện thật sự trong tâm hồn ta (x. Ga 14:17.20.23.26). Sự hiện diện của Ngài hiện nay không phải là một sự hiện diện tại thế, mang tính vật chất, mà là sự hiện diện mang tính tâm linh. Điều ấy người Kitô hữu nào cũng biết và cũng tin như thế. Vấn đề còn lại mang tính thực hành là: làm sao để Ngài thật sự nuôi dưỡng và phát triển đời sống tâm linh của ta?&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;b) “&lt;/span&gt;&lt;i style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;Ăn thịt&lt;/i&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;” và “&lt;/span&gt;&lt;i style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;uống máu&lt;/i&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 102, 0);"&gt;” Đức Giêsu thế nào?&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Trước hết phải hiểu đúng các từ “&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;” và “&lt;i&gt;uống&lt;/i&gt;”, “&lt;i&gt;thịt&lt;/i&gt;” và “&lt;i&gt;máu&lt;/i&gt;” theo nghĩa tâm linh là gì. Ăn và uống vật gì là được nuôi dưỡng, được trở nên mạnh mẽ bởi chính vật ấy. Thịt và máu một người nói lên chính bản thân hay bản chất người ấy. Ăn thịt và uống máu Đức Giêsu hiểu theo nghĩa tâm linh là được bổ dưỡng, được trở nên mạnh mẽ bởi chính bản chất Đức Giêsu. Bản chất của Đức Giêsu là gì? Hiểu và thường xuyên ý thức bản chất của Đức Giêsu là gì là điều cốt yếu và hết sức quan trọng để có thể “&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;” và “&lt;i&gt;uống&lt;/i&gt;” Ngài. Trước tiên, Ngài chính là Thiên Chúa, là thần linh. Ngoài ra, Ngài còn là nguồn sống, nguồn tình yêu, nguồn sức mạnh, nguồn trí tuệ, nguồn của tất cả mọi sự thiện hảo trên trời dưới đất. “&lt;i&gt;Ăn&lt;/i&gt;” và “&lt;i&gt;uống&lt;/i&gt;” Ngài chính là làm cho bản chất của Ngài thấm nhập vào bản chất của ta, làm cho ta càng ngày càng trở nên Ngài, nói cụ thể hơn là giống y như Ngài, trở nên một với Ngài. Nghĩa là ta cũng trở nên thần linh, trở nên nguồn sự sống, nguồn tình yêu, nguồn sức mạnh, nguồn trí tuệ, nguồn của tất cả mọi sự thiện hảo. Để rồi cuối cùng trở nên đúng như Ngài đã mô tả:  “&lt;i&gt;Ai uống nước tôi cho&lt;/i&gt;&lt;i&gt; (&lt;/i&gt;“&lt;i&gt;nước&lt;/i&gt;” ở đây chính là bản thân Ngài) sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự sống đời đời”(Ga 4,14). Lúc đó ta sẽ không còn khao khát một thứ gì nữa, nghĩa là được thỏa mãn mọi bề, được tràn đầy hạnh phúc, vì Ngài đã là tất cả rồi. Và mọi người sẽ thấy ở nơi ta một nguồn mạch tràn đầy sức sống, tình thương, khôn ngoan, can đảm, nghị lực… luôn luôn “&lt;i&gt;vọt lên&lt;/i&gt;”. Nhờ đó, chẳng những chính bản thân ta tràn đầy hạnh phúc, mà ta còn làm cho tất cả những người chung quanh ta hạnh phúc bằng sự dấn thân phục vụ không mệt mỏi của ta nữa.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Tôi muốn nhắc lại điều quan trọng này là: muốn cho bản chất của Ngài thấm nhập vào bản chất của ta, tức là ta “&lt;i&gt;ăn&lt;/i&gt;” Ngài, thì không cách gì hữu hiệu hơn là thường xuyên ý thức về bản chất của Ngài và sự hiện diện thường hằng của bản chất ấy trong bản thân ta. Ý thức thường xuyên ấy là điều kiện tối cần thiết để bản chất của Ngài dần dần thấm sang bản chất của ta. Tương tự như hai bình liền nhau, cách nhau bởi một vách xốp: nước trong bình này từ từ thấm và chảy sang bình kia. Ý thức thường xuyên ấy làm cho vách ấy trở nên xốp để nước có thể thấm và chảy qua.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đó là cách tôi hiểu đoạn Tin Mừng trên. Tôi hoàn toàn không bài bác những cách hiểu khác. Nhưng quả thật đời sống tâm linh tôi chỉ thật sự thay đổi và khởi sắc lên từ khi tôi hiểu và áp dụng bài Tin Mừng hôm nay theo cách này. Đó là thực nghiệm tâm linh của tôi mà tôi muốn chia sẻ với mọi người, để ai muốn thì cứ thử hiểu theo cách này xem. Tôi tin tưởng và hy vọng người ấy sẽ được biến đổi.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-6840859550747578318?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/6840859550747578318'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/6840859550747578318'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/anthitvauongmauducgiesulagi.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-8722318287940222901</id><published>2009-08-06T19:03:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T19:05:36.423-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;Tinh thần siêu thoát phải có của người tông đồ&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;1. Đức Giêsu sai các môn đệ đi “&lt;i&gt;từng hai người một&lt;/i&gt;”&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Không phải không hữu ý mà Đức Giêsu sai các môn đệ đi loan báo Tin Mừng “&lt;i&gt;từng hai người một&lt;/i&gt;”. Nếu đi riêng lẻ, chắc chắn các môn đệ sẽ đi được nhiều nơi hơn, tiếp xúc được nhiều người hơn, nhưng hiệu quả sẽ kém hơn. Vì đi một mình thì khi gặp khó khăn – chẳng hạn khi bị người khác từ chối không tiếp – các ông sẽ không biết bàn hỏi với ai, không được ai khích lệ, nên sẽ dễ nản lòng và bỏ cuộc. Khi sai đi “&lt;i&gt;từng hai người một&lt;/i&gt;”, Đức Giêsu mong các ông hợp tác và liên đới với nhau, khích lệ và bàn hỏi nhau khi gặp khó khăn, nhất là biểu lộ tình yêu thương nhau như một dấu chỉ đặc trưng của môn đệ Ngài (x. Ga 13,35). Dấu chỉ này là một chứng từ hết sức sống động và lôi cuốn người khác theo mình. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Điều hết sức quan trọng là tinh thần hợp tác khi làm tông đồ. Người Việt ta bị mang tiếng là rất kém về tinh thần hợp tác, kể cả khi làm công tác tông đồ. Chính vì thế khi làm những việc lớn vốn cần sự hợp tác của nhiều người, người Việt thường làm kém hiệu quả. Người ta vẫn nói: khi làm việc riêng lẻ thì người Việt thường làm tốt hơn người Nhật, nhưng khi làm chung với nhau thì hai người Việt làm không bằng hai người Nhật, và tệ hơn nữa là ba người Việt thì làm thua xa ba người Nhật. Tại sao? Vì người Việt thường chỉ có “&lt;i&gt;bụng riêng&lt;/i&gt;” mà ít có “&lt;i&gt;bụng chung&lt;/i&gt;”. Là người Việt, khi phải nói ra sự thật này, ta không khỏi đau lòng và bị chạm tự ái thay cho dân tộc. Ta thấy có khá nhiều trường hợp hai người cùng làm việc tông đồ với nhau nhưng lại không ưa nhau, “&lt;i&gt;cùng một nhà&lt;/i&gt;” nhưng lại không thể cùng “&lt;i&gt;ăn chung một nồi&lt;/i&gt;” với nhau. Người này không muốn người kia nổi bật hơn mình, và tỏ ra khó chịu rõ rệt khi thấy người kia được mọi người ưa chuộng hơn mình… Đúng lý ra khi làm tông đồ, người ta phải từ bỏ “&lt;i&gt;cái tôi&lt;/i&gt;” của mình trước đã, có thế, công việc tông đồ mới có hiệu quả:  “&lt;i&gt;Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình…&lt;/i&gt;”  (Mt 26,34; Lc 9,23).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt; 2. Tinh thần siêu thoát của người tông đồ&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Khi sai các môn đệ đi loan báo Tin Mừng, nếu theo cách suy nghĩ của đời thường, Đức Giêsu đã phải yêu cầu các ông đem theo đồ này vật nọ, nhất là tiền bạc, để phòng xa có khi phải dùng đến. Nhưng Ngài lại  “&lt;i&gt;chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo&lt;/i&gt;”. Có phải Đức Giêsu không khôn ngoan? Ngày nay, tại Việt Nam, một linh mục khi mới thụ phong thường phải sắm cho mình tối thiểu một chiếc xe gắn máy tương đối tốt, một vài áo chùng thâm (soutane), một số áo lễ, và một lô sách vở (hàng trăm cuốn). Cũng có vị còn trang bị cho mình một dàn máy vi tính thật mạnh, điện thoại cố định hoặc di động… Những giáo dân làm công tác tông đồ ở xa cũng phải trang bị cho mình những vật dụng cần thiết như tiền bạc, một lô quần áo, sách vở… Phải chăng như thế là trái với tinh thần của Đức Giêsu? – Tôi nghĩ không thể hiểu lời nói trên của Đức Giêsu theo nghĩa đen, mà phải hiểu theo nghĩa tâm linh. Vả lại mỗi thời mỗi khác, cần phải thích ứng theo thời đại. Thời nay mà áp dụng theo nghĩa đen lời của Ngài thì rất có thể làm việc tông đồ sẽ không hữu hiệu. Tuy nhiên, điều quan trọng mà Đức Giêsu muốn nhấn mạnh chính là &lt;b&gt;tinh thần siêu thoát&lt;/b&gt; của người tông đồ.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Người tông đồ không nên quá lệ thuộc hay câu nệ vào phương tiện này hoặc phương tiện kia. Phương tiện nào thật sự cần thiết cho mục đích tông đồ thì đều có thể sử dụng, thậm chí cần phải sử dụng để việc tông đồ đạt được hiệu quả cao. Tuy nhiên, phương tiện nào không cần thiết thì người tông đồ nên loại bỏ để khỏi bị cồng kềnh, và khỏi bị lệ thuộc vào chúng. Người tông đồ không nên bị lệ thuộc quá nhiều vào ngoại cảnh, vào các phương tiện, vào các vật dụng bên ngoài mình.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Về vấn đề này, thiết tưởng ta nên phân biệt 3 loại nhu cầu :&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; a) &lt;b&gt;Nhu cầu tự nhiên và cần thiết: &lt;/b&gt;như ăn, uống, thở hít không khí, thuốc chữa bệnh, quần áo che thân, nhà cửa, nghỉ ngơi hay giải trí khi mệt mỏi, sự an toàn bản thân… Đây là những nhu cầu mà mọi người đều có bổn phận phải thỏa mãn cho mình để có thể tồn tại và hạnh phúc, để sống khỏe mạnh, giữ cho thân thể tráng kiện, tránh những đau đớn… Tuy nhiên, người tông đồ nên sẵn sàng chấp nhận từ bỏ những nhu cầu tự nhiên và tối cần thiết này khi bổn phận phải làm theo tiếng lương tâm thúc bách. Nhiều người đã sẵn sàng chết, nhịn đói, bị tù… để bảo vệ đức tin, để tranh đấu cho chân lý, công lý và tình thương…&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; b) &lt;b&gt;Nhu cầu tự nhiên nhưng không cần thiết: &lt;/b&gt;như thay đổi bữa ăn cho ngon miệng, quạt khi nóng bức, phương tiện di chuyển (xe cộ), phương tiện làm việc hữu hiệu… Thiết tưởng người tông đồ nên sẵn sàng thỏa mãn loại nhu cầu này để đời sống trở nên thoải mái, nhờ đó thể chất cũng như tâm lý phát triển quân bình. Tuy nhiên, nếu vì nó mà ta phải nhọc nhằn, lo bận, lệ thuộc, làm ta mất tự do, mất uy tín thì ta hãy sẵn sàng từ bỏ.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; c) &lt;b&gt;Nhu cầu giả tạo &lt;/b&gt;(không tự nhiên cũng không cần thiết): như sự ham mê danh vọng, bạc tiền, thú vui, quyền lực, sự sang trọng thế gian… Thiết tưởng người tông đồ nên thẳng tay từ bỏ loại nhu cầu này.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Thông thường, càng ít nhu cầu, chúng ta càng dễ sống siêu thoát, càng dễ làm theo những đòi hỏi của lương tâm, càng dễ sống thanh khiết, hiên ngang, cao thượng, can đảm… Đó là điều kiện cần thiết để làm tông đồ một cách hữu hiệu. Người bị lệ thuộc vào quá nhiều nhu cầu thì thường phải sống trong sợ hãi, bất an, dễ trở nên hèn nhát, không dám dấn thân theo những đòi hỏi của lương tâm…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;3. Siêu thoát để dễ dàng dấn thân cho sứ mạng tông đồ &lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Hiện nay, việc tranh đấu cho chân lý, công lý, và tình thương – ba điều cốt tủy của lề luật (x. Mt 23,23) – là một bổn phận rất thực tế và quan trọng không thể thiếu trong công việc ngôn sứ, trong đời sống chứng nhân của người tông đồ. Thật không thể hiểu được một người tông đồ rao giảng sứ điệp yêu thương của Đức Giêsu lại có thể ngoảnh mặt làm ngơ như một kẻ vô trách nhiệm trước những đau khổ khốn cùng của đồng loại, trước những cảnh bất công trước mắt của xã hội! Các tín đồ tôn giáo khác cũng cảm thấy đó là một bổn phận thúc bách, đừng nói gì những người làm tông đồ của Đức Giêsu, nhất là những người tông đồ hậu Công Đồng Vatican II (x. Hiến chế Vui mừng và hy vọng, một văn kiện đòi hỏi người Kitô hữu phải dấn thân cho xã hội, thế giới, trần gian)!&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Quả thật, tranh đấu cho chân lý, công lý và tình thương – nhất là trong những thể chế độc tài, phi nhân – đòi hỏi một sự dấn thân quyết liệt, một sự can đảm phi thường. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi ta có một tinh thần từ bỏ thật sự, có sẵn sàng từ bỏ mọi sự ta mới trở nên vô úy, can đảm thật sự. Người có quá nhiều cái để mất – nghĩa là bị lệ thuộc vào quá nhiều nhu cầu – sẽ bị chìm ngập trong lo sợ, và sẽ không dám làm gì cả. Trái lại, người không có gì để mất – tức những người có rất ít nhu cầu và sẵn sàng từ bỏ tất cả – thì sẽ không có gì để sợ. Tóm lại, càng ít tham vọng, càng ít nhu cầu thì càng ít sợ hãi, và càng nhiều tham vọng, càng nhiều nhu cầu thì càng dễ sợ hãi. Chỉ những người có thể hạnh phúc được bất cứ trong hoàn cảnh nào, nghĩa là những người không dính bén vào bất cứ vật gì sự gì, có thể chấp nhận mất tất cả mà vẫn hạnh phúc, mới dám dấn thân vào những công cuộc đòi hỏi nhiều hy sinh như vậy!&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Thật vậy, một người muốn ăn sung mặc sướng, ham sống trên nhung lụa, muốn được đầy đủ mọi tiện nghi, muốn hưởng mọi đặc quyền đặc lợi, muốn được người đời ưu đãi trong mọi việc… làm sao người ấy dám vì lương tâm, vì sứ mạng, vì lý tưởng mà chấp nhận tù tội, sống kham khổ, hay sống thiếu những đặc quyền đặc lợi ấy? Đừng hy vọng gì hạng người này dám dấn thân cho Giáo Hội hay xã hội nếu sự dấn thân ấy có nguy cơ khiến họ phải từ bỏ những ưu đãi của người đời. Tâm lý của hạng người này là thà sống hèn sống nhục hơn là sống trong thiếu thốn; thà chết đi với tiếng xấu muôn đời còn hơn phải chấp nhận một vài ngày tù tội; thà làm một “&lt;i&gt;mục tử ghẻ&lt;/i&gt;” còn hơn phải hy sinh một vài ưu đãi vì lên tiếng bênh vực một con chiên lành bị áp bức bất công; thà làm một ngôn sứ giả được mọi người tôn trọng, ưu đãi còn hơn phải làm một ngôn sứ thật với cuộc đời đầy vất vả chông gai!&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Hiện nay ta thấy có rất nhiều người mang danh là tông đồ, đã từng cam kết từ bỏ mọi sự thế gian – nào là gia đình, vợ con, quyền lực, tiền bạc – để sẵn sàng dấn thân cho Chúa, cho dân Chúa, cho chân lý, cho công lý, nhưng trong thực tế lại không dám dấn thân chút nào cả. Tại sao? Chính vì họ đã ôm lại vào mình quá nhiều tham vọng và nhu cầu, trong đó có biết bao nhu cầu giả tạo và tham vọng không xứng hợp với lý tưởng (chẳng hạn tham vọng nắm giữ quyền lực, ham muốn giàu sang, quyết thăng quan tiến chức trong Giáo Hội hoặc xã hội). Tóm lại, họ chỉ cam kết từ bỏ tất cả một cách hình thức đúng theo nghi thức dấn thân đòi buộc mà thôi, còn trong thực tế thì họ chẳng từ bỏ bất cứ một thứ gì, trái lại họ còn ôm vào mình nhiều thứ hơn cả những người không cam kết gì.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Ý của Đức Giêsu khi khuyên các tông đồ không đem gì theo, không nên hiểu là một hành động thực tế cho bằng một thái độ nội tâm: không dính bén vào bất kỳ một vật gì hay sự gì, để có thể từ bỏ chúng bất kỳ lúc nào, trong bất kỳ trường hợp nào mà sứ mạng và lương tâm đòi buộc.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-8722318287940222901?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/8722318287940222901'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/8722318287940222901'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/tinhthansieuthoatcuanguoitongdo.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-645705922191759670</id><published>2009-08-06T18:56:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T19:00:03.644-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;Hai loại mục tử trong các thời đại&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;1. Bối cảnh khi Chúa Giêsu nói về vị Mục Tử Nhân Lành&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Trong Tin Mừng Gioan, đoạn nói về vị Mục Tử nhân lành (Ga 10,1-21) được tiếp nối ngay sau đoạn nói về việc Đức Giêsu chữa người mù từ thuở mới sinh (Ga 9,1-41), điều này không phải không có ý nghĩa. Bài về việc chữa người mù (Ga 9) mô tả chân dung của những mục tử dỏm, mang danh mục tử nhưng trong thực tế chỉ là kẻ chăn thuê; và bài kia (Ga 10) mô tả chân dung của người mục tử đích thực, sẵn sàng sống chết vì đàn chiên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong bài Tin Mừng về người mù được chữa lành, những mục tử dỏm – hay những người Pharisêu – được mô tả là những người chỉ quan tâm đến những luật lệ của tôn giáo chứ không quan tâm đến con người. Họ chỉ lo bắt dân chúng thi hành những luật lệ tôn giáo chứ không màng gì đến những nhu cầu thực tế cần được cứu giúp của dân chúng. Còn Đức Giêsu – người mục tử đích thực – thì hành động ngược lại. Đối với Ngài,  “&lt;i&gt;ngày sabát&lt;/i&gt;”, cũng như lề luật và tôn giáo, “&lt;i&gt;được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày sabát&lt;/i&gt;”, hay cho lề luật và tôn giáo(Mc 2,27); còn họ thì quan niệm ngược lại. Họ muốn thần thánh hóa lề luật và tôn giáo hơn cả con người, đang khi chính con người – vốn “&lt;i&gt;được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa&lt;/i&gt;”(St 1,27; 9,6) và  “&lt;i&gt;giống như Thiên Chúa&lt;/i&gt;”(St 1,26) – đáng lẽ phải được coi là linh thánh hơn nhiều. Tôn giáo và lề luật chỉ là những phương tiện phục vụ con người, đưa con người về với Thiên Chúa. Con người mới chính là mục đích của tôn giáo và lề luật. Đức Giêsu chủ trương ngược lại với họ:  “&lt;i&gt;Ta muốn lòng nhân&lt;/i&gt;”, tức tình thương giữa con người với nhau,  “&lt;i&gt;chứ đâu cần lễ tế&lt;/i&gt;”(Mt 12,7). Ngài coi chuyện làm hòa với anh em mình, tức cách cư xử giữa con người với nhau, còn quan trọng hơn việc dâng của lễ trên bàn thờ(x. Mt 5,23-24).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người Pharisêu coi chuyện “&lt;i&gt;nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng&lt;/i&gt;” cho đền thờ là điều rất quan trọng, nhưng lại chủ trương “&lt;i&gt;bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và lòng thành thật&lt;/i&gt;”(Mt 23,23). Họ coi vàng trong đền thờ còn trọng hơn cả chính đền thờ (x.23,16-17), coi lễ vật trên bàn thờ còn trọng hơn cả bàn thờ (x.23,18-19). Sở dĩ họ phải quan trọng hóa lề luật, lễ tế, các nghi thức bề ngoài và những chuyện phụ thuộc(x. Mt 23,16-22), đồng thời dạy mọi người quan niệm như vậy… vì có làm thế, vai trò của họ mới được coi trọng, được đề cao, và mọi người mới chịu dâng cúng vào đền thờ cho nhiều, nhờ đó họ mới có những lợi lộc cụ thể. Nếu quan trọng hóa theo chiều ngược lại như chủ trương của Đức Giêsu, là quan trọng hóa con người, thái độ tâm linh bên trong, nhấn mạnh đến “&lt;i&gt;công lý, tình thương và lòng thành thật&lt;/i&gt;” như những điều cốt yếu nhất của lề luật, thì rõ ràng họ không có lợi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dạy dân chúng quan niệm sai lầm như thế là một thủ thuật để họ được lợi. Nên Đức Giêsu gọi họ là “&lt;i&gt;những kẻ dẫn đường mù quáng&lt;/i&gt;”(Mt 23,16), là “&lt;i&gt;những người mù dắt người mù&lt;/i&gt;”(Mt 15,14). Tuy nhiên, điều khiến cho họ bị kết án không phải là chuyện họ mù, nhưng là chuyện họ không bao giờ nhận mình là mù, là sai, mà cứ ngoan cố cho mình là đúng, là sáng, lại còn buộc mọi người phải tung hô mình là đúng, là sáng nữa:  “&lt;i&gt;Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: “Chúng tôi thấy”, nên tội các ông vẫn còn!&lt;/i&gt;”(Ga 9,41).&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt; 2. Chân dung người Mục Tử nhân lành&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Qua bài Tin Mừng, ta thấy điều cốt yếu khiến người mục tử đích thực khác với người mục tử dỏm là ở điểm này: Người mục tử đích thực thì thật sự yêu thương đàn chiên, luôn luôn nghĩ đến sự sống, lợi ích hay hạnh phúc của đàn chiên, thậm chí quên cả lợi ích hay sự tồn tại của mình, sẵn sàng sống chết vì đàn chiên:  “&lt;i&gt;Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên&lt;/i&gt;”(Ga 10,11). Mối bận tâm lớn nhất của người mục tử đích thực là làm sao để “&lt;i&gt;chiên được sống và sống dồi dào&lt;/i&gt;” (10,10), dồi dào về tâm linh, và nếu có thể được thì cả vật chất nữa. Vì đối với người mục tử đích thực, đàn chiên không phải là những con vật mà là con người, là “&lt;i&gt;hình ảnh của Thiên Chúa&lt;/i&gt;”, Đấng mà họ tôn thờ và hết lòng yêu mến. Sự thánh thiện của người mục tử đích thực hệ tại tình yêu thương mà họ dành cho đàn chiên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Còn người mục tử dỏm thì chỉ nghĩ đến lợi ích của mình, “&lt;i&gt;không thiết gì đến chiên&lt;/i&gt;” (10,13), “&lt;i&gt;nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy&lt;/i&gt;”, chấp nhận để “&lt;i&gt;sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn&lt;/i&gt;” (10,12). Đối với những mục tử dỏm này, đàn chiên có vẻ chỉ như những con vật có bổn phận cung cấp sữa và thịt để họ ăn uống thỏa thuê, cung cấp những phương tiện để họ sống xa hoa, giàu có. Ngôn sứ Êdêkiel đã mô tả hạng mục tử này như sau:  “&lt;i&gt;Khốn cho các mục tử Ítraen, những kẻ chỉ biết lo cho mình! Sữa chiên thì các ngươi uống, len thì các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, nhưng đàn chiên thì lại không lo chăn dắt. Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc&lt;/i&gt;”(Ed 34,2-4).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;3. Hai loại mục tử trong các thời đại&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Bất kỳ thời đại nào, trong mọi xã hội cũng như trong mọi tôn giáo, luôn luôn có hai loại mục tử nói trên. Các mục tử đích thực, biết yêu thương và hy sinh cho đàn chiên thì thời nào cũng có. Họ làm cho bộ mặt của xã hội và của các tôn giáo trở nên hấp dẫn, lôi cuốn, đáng kính đáng yêu hơn. Họ là hiện thân và là phản ảnh trung thực của Đức Giêsu, vị Mục tử Nhân lành, trong các thời đại, là con người nối dài của Ngài để cứu độ thế giới suốt dòng lịch sử. Nơi họ quy tụ rất nhiều nhân đức, tinh thần hy sinh. Họ là tinh hoa của nhân cách con người, là kết tinh của tình yêu nhân loại. Một trong những đặc tính căn bản của họ là lúc nào cũng làm việc, và không bao giờ hết việc để làm, nhất là trong một thế giới đầy dẫy đau khổ như hiện nay. Tình yêu đồng loại thúc đẩy họ làm việc liên tục, vô vị lợi. Tất cả những ai đến với họ đều được tiếp đón ân cần và như nhau, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn. Giả như có sự phân biệt nào đó thì bao giờ sự ưu đãi cũng nghiêng về phía người nghèo, người đau khổ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng song song với những mục tử đích thực ấy, luôn luôn có những mục tử dỏm, cũng mang danh mục tử, cũng được phong chức mục tử, nhưng có không tâm hồn mục tử chút nào. Đối với họ, mục tử chỉ là một nghề nghiệp để kiếm sống, một nghề tương đối được ưu đãi trong xã hội và trong tôn giáo, vừa được mọi người nể nang kính trọng, vừa dễ kiếm tiền một cách khá nhàn nhã. Do chức năng phải giảng dạy, họ cũng rao giảng Tin Mừng, cũng khuyên bảo mọi người thực hiện những điều tốt lành đạo đức, nhưng bản thân họ thì… không thực hiện. Với những lời họ khuyên bảo, ta nên áp dụng lời của Đức Giêsu:  “&lt;i&gt;Tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng làm theo, vì họ nói mà không làm&lt;/i&gt;”(Mt 23,3). Một cách nào đấy, họ vô tình phá hoại và làm cho các tâm hồn thất vọng về tôn giáo của họ qua lối sống ích kỷ của họ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rất dễ nhận ra loại mục tử này qua một vài đặc tính sau đây:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;– đối xử phân biệt rõ ràng giữa giàu nghèo: ưu đãi và kính nể người giàu, bạc đãi và coi khinh người nghèo.&lt;br /&gt;– sống xa hoa, giàu sang bất chấp chung quanh và kế cận mình có biết bao người túng thiếu, nghèo khổ.&lt;br /&gt;– bách hại những ai dám nói sự thật về con người mình.&lt;br /&gt;– ai nhờ việc gì cũng phải có tiền mới hăng hái làm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một số người công giáo nhận xét: hiện nay, càng ngày càng có nhiều người tin Chúa nhưng không còn tin Giáo Hội, và có nhiều người đã từ bỏ Giáo Hội để theo những giáo phái khác. Nhận xét đó có thể đúng. Và nếu đúng thì mọi người công giáo – nhất là các vị mục tử trong Giáo Hội – đều nên xét lại chính mình. Rất có thể người công giáo đã không sống đúng những điều căn bản nhất của Tin Mừng là sống công bằng và yêu thương. Và cũng rất có thể tỷ lệ giữa các mục tử đích thực và các mục tử dỏm không còn được như xưa: số các mục tử dỏm đã tăng lên rất nhiều. Thiết tưởng vì tương lai và sự phát triển của Giáo Hội, mọi người công giáo – đặc biệt các vị mục tử – đều có trách nhiệm phải chấn chỉnh lại cách sống của mình, và phải điều chỉnh lại tỷ lệ ấy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Do đó, nếu nói Giáo Hội thiếu mục tử thì không đúng lắm, vì nếu thiếu mục tử thì chắc hẳn mọi mục tử sẽ làm việc suốt ngày không xuể. Nhưng trước mắt mọi người thì rõ ràng có khá nhiều mục tử xem ra rất nhàn nhã, nếu có bận thì bận việc gì khác chứ không phải là việc đạo. Có lẽ đúng hơn là Giáo Hội thiếu các mục tử đích thực, những mục tử thật sự luôn quan tâm để đàn chiên “&lt;i&gt;được sống và sống dồi dào&lt;/i&gt;”. Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho Giáo Hội, không phải chỉ là những mục tử, mà là những mục tử đích thực.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-645705922191759670?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/645705922191759670'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/645705922191759670'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/hailoaimuctutrongcacthoidai.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-2270093292230667815</id><published>2009-08-06T18:52:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T18:54:44.351-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;Hai loại mục tử trong Thánh Kinh&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: left;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;1. Mục tử – tốt và xấu – trong xã hội và Giáo Hội &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Xã hội nào cũng đều có tổ chức, cơ cấu, trong đó luôn luôn có những người lãnh đạo, điều khiển. Trong các tôn giáo cũng thế. Trong lịch sử Do-thái, những người lãnh đạo dân chúng được gọi là mục tử (x. Gr 10,21; Ed 37,23-24): chẳng hạn như vua Saun, vua Đavít. Kitô giáo, vốn tiếp nối truyền thống Do-thái, cũng gọi những người lãnh đạo trong Giáo Hội (như linh mục, mục sư, giám mục, hồng y, giáo hoàng) là mục tử. Những mục tử hay những người lãnh đạo ấy thường được xã hội hay tôn giáo tạo cho những điều kiện thuận lợi và trao cho những phương tiện hữu hiệu để có thể thi hành hữu hiệu công việc lãnh đạo đó: chẳng hạn địa vị, chức vụ, quyền bính, tiền bạc, tiếng nói… Những điều kiện và phương tiện này là một thứ dao hai lưỡi. Nó có thể giúp các mục tử hay các nhà lãnh đạo phục vụ dân chúng hay các tín hữu hữu hiệu hơn. Nhưng nó có thể làm tha hóa, biến chất các mục tử khi sử dụng nó. Và nó cũng có thể bị những kẻ lắm tham vọng tìm cách đạt tới để lợi dụng nó, để phục vụ cho những tham vọng hay lợi ích cá nhân của mình, của gia đình hay phe nhóm mình.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Như vậy, chiếu theo thái độ đối với những điều kiện và phương tiện mà xã hội hay tôn giáo dành cho những người lãnh đạo hay mục tử, ta có thể có 2 loại mục tử tương ứng: &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;– Mục tử tốt: &lt;/b&gt;là những người lãnh đạo thật sự có ý hướng phục vụ dân chúng hay các tín hữu, chứ không nhằm lợi ích cho riêng mình. Họ sử dụng những điều kiện hay phương tiện xã hội hay Giáo Hội trao cho hoàn toàn để phục vụ tha nhân và công ích. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;– Mục tử xấu:&lt;/b&gt; là những người lãnh đạo không nhắm phục vụ dân chúng, mà nhắm đạt được những điều kiện và phương tiện thuận lợi kia để hưởng thụ hoặc chỉ để thăng tiến bản thân, thỏa mãn những tham vọng riêng tư. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Loại sau này còn bao gồm những &lt;b&gt;mục tử bị tha hóa&lt;/b&gt; , là những người lãnh đạo khởi đầu có ý hướng tốt, nhưng khi tiếp xúc hay sử dụng những điều kiện hay phương tiện xã hội trao cho, thì bị chúng hấp dẫn, mê hoặc và làm cho biến chất, để cuối cùng trở thành những mục tử xấu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt; 2. Mục tử tốt và xấu trong Thánh Kinh &lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Trong bài Tin Mừng (Ga 10,11-18), Đức Giêsu mô tả và đối chiếu hai loại mục tử ấy: một loại được gọi là mục tử nhân lành, còn loại kia là kẻ chăn chiên thuê. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;• Mục tử nhân lành&lt;/b&gt;thì:  “&lt;i&gt;hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên&lt;/i&gt;”, “&lt;i&gt;tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi… chúng sẽ nghe tiếng tôi&lt;/i&gt;”. Ngài tự nhận mình chính là mục tử loại này. Trong Thánh Kinh có rất nhiều câu mô tả những đức tính tốt của những mục tử nhân lành, mà chính Thiên Chúa là mô hình gương mẫu nhất:&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; yêu thương, trìu mến chiên với tất cả tâm hồn:  “&lt;i&gt;Chúa tập trung cả đàn chiên dưới cánh tay: lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt&lt;/i&gt;”(Is 40,11).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;yêu quí từng con chiên, một con cũng như cả trăm con:  “&lt;i&gt;Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc&lt;/i&gt;”(Mt 18,12-13).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;lo cho chiên, tạo những điều kiện tốt đẹp cho chiên:  “&lt;i&gt;Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi và chuồng của chúng sẽ ở trên các núi cao. Tại đó chúng sẽ nằm nghỉ trong chuồng êm ái, sẽ đi ăn trong những đồng cỏ mầu mỡ&lt;/i&gt;”  (Ed 34,14).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;làm chiên sống no ấm, hạnh phúc:  “&lt;i&gt;Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì&lt;/i&gt;”(Tv 23,1); làm chiên luôn vững dạ vì được bảo vệ:  “&lt;i&gt;Dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm&lt;/i&gt;”  (23,4).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;tinh thần trách nhiệm rất cao:  “&lt;i&gt;Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng&lt;/i&gt;”  (Ed 34,16).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;cứu thoát, giải phóng đàn chiên:  “&lt;i&gt;Thiên Chúa sẽ cứu thoát dân Người, như mục tử cứu thoát đàn chiên&lt;/i&gt;”  (Dc 9,16).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Tóm lại, người mục tử tốt thật sự yêu thương đàn chiên, sẵn sàng hy sinh cho sự an nguy và hạnh phúc của đàn chiên. Thậm chí như Đức Giêsu, người mục tử tuyệt vời nhất, sẵn sàng hy sinh cả mạng sống mình: coi sự sống còn của đàn chiên quý hơn cả sự sống mình.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;b&gt;• Kẻ chăn chiên thuê&lt;/b&gt;hay &lt;b&gt;mục tử xấu&lt;/b&gt; thì:  “&lt;i&gt;không thiết gì đến chiên&lt;/i&gt;”, “&lt;i&gt;khi thấy sói đến liền bỏ chiên mà chạy: sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn&lt;/i&gt;”. Thánh Kinh cũng có nhiều câu mô tả hạng mục tử này với những đặc tính:&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; vô trách nhiệm:  “&lt;i&gt;Con chiên nào mất, nó chẳng quan tâm; con thất lạc, nó chẳng đi tìm; con bị thương, nó không chạy chữa; con mạnh khoẻ, nó chẳng dưỡng nuôi&lt;/i&gt;”(Dc 11,16a);  “&lt;i&gt;Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm&lt;/i&gt;”(Ed 34,4)&lt;p&gt;&lt;/p&gt;chỉ nghĩ tới hưởng thụ, sẵn sàng bóc lột:  “&lt;i&gt;Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, mà đàn chiên lại không lo chăn dắt&lt;/i&gt;”(Ed 34,3). Thậm chí bóc lột đến tận xương tủy:  “&lt;i&gt;Con nào béo thì chúng ăn thịt, rồi lóc luôn cả móng&lt;/i&gt;”(Dc 11,16b)&lt;p&gt;&lt;/p&gt;ích kỷ, vụ lợi, đầy tham vọng:  “&lt;i&gt;Chúng là lũ chó đói, ăn chẳng biết no. Thế mà chúng lại là mục tử! Cả bọn – chẳng trừ ai – chỉ mưu tìm lợi lộc cho riêng mình&lt;/i&gt;”(Is 56,11).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;tàn bạo, độc ác:“&lt;i&gt;Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc&lt;/i&gt;”  (Ed 34,3);  “&lt;i&gt;Các ngươi đã xua đuổi và chẳng lưu tâm gì đến chúng&lt;/i&gt;”  (Gr 23,2b).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;tác hại vô cùng đến đàn chiên:  “&lt;i&gt;Các ngươi đã làm cho đàn chiên của Ta phải tan tác&lt;/i&gt;”(Gr 23,2).&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Tóm lại, mục tử xấu coi đàn chiên chỉ là phương tiện, bắt chúng phải hy sinh phục vụ cho lợi ích riêng tư của mình, không một chút tình thương đối với chúng. Nhưng kết cục của hạng mục tử này rất bi thảm:  “&lt;i&gt;Khốn cho mục tử vô tích sự đã bỏ mặc đàn chiên. Gươm sẽ chặt đứt tay nó, sẽ chọc mắt phải của nó. Cánh tay của nó sẽ khô đét, và mắt phải của nó sẽ mù loà&lt;/i&gt;”(Dc 11,17);  “&lt;i&gt;Khốn thay những mục tử làm cho đàn chiên Ta chăn dắt phải thất lạc và tan tác (…) các ngươi đã xua đuổi và chẳng lưu tâm gì đến chúng. Này Ta sẽ để ý đến các hành vi gian ác của các ngươi mà trừng phạt các ngươi. Đó là sấm ngôn của Đức Chúa&lt;/i&gt;”  (Gr 23,1-2).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;3. Hãy trở nên những mục tử nhân lành&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu tự xưng mình là  “&lt;i&gt;mục tử nhân lành&lt;/i&gt;”, luôn yêu thương đàn chiên và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên. Khi tự xưng như thế không phải để chúng ta nể phục cho bằng để chúng ta bắt chước, noi gương Ngài trong công việc “&lt;i&gt;mục tử&lt;/i&gt;” của chúng ta. Chúng ta thường giới hạn ý nghĩa của từ “&lt;i&gt;mục tử&lt;/i&gt;” này, đến nỗi chỉ áp dụng nó cho những người lãnh đạo tôn giáo. Thật ra, tất cả những ai đảm trách việc lãnh đạo, từ một gia đình đến một phường, một tỉnh, hay một quốc gia, từ một hội đoàn, một xứ đạo, đến một giáo phận, một giáo hội địa phương hay Giáo Hội toàn cầu, một cách nào đó, đều có thể gọi là mục tử. Ước chi mọi mục tử đều biết thật sự yêu thương đàn chiên của mình và lãnh đạo chúng một cách sáng suốt! Ước chi mọi cha mẹ đều yêu thương con cái, mọi cha xứ đều sẵn sàng hy sinh phục vụ giáo dân, mọi giám mục đều hết lòng chăm sóc các linh mục và giáo dân dưới quyền mình! Ước chi mọi vị lãnh đạo xã hội và đất nước biết quên những quyền lợi riêng tư để nghĩ đến lợi ích chung của dân chúng!&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Mọi quốc gia, mọi giáo hội, đều rất cần những vị minh quân, những mục tử nhân lành. Cần hơn cả việc có thật đông những cá nhân tài giỏi, xuất sắc. Câu chuyện sau đây minh họa điều đó. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Có hai người thuộc hai quốc gia nói chuyện với nhau: –  “&lt;i&gt;Tôi rất khâm phục đất nước anh, vì nước anh có rất nhiều anh hùng&lt;/i&gt;”. – “&lt;i&gt;Thế đất nước anh có nhiều anh hùng không?&lt;/i&gt;” – “&lt;i&gt;Rất tiếc, đất nước tôi ít anh hùng lắm!&lt;/i&gt;” – “&lt;i&gt;Lạ nhỉ, đất nước tôi nhiều anh hùng thế mà sao vẫn cứ nghèo nàn và lạc hậu, còn đất nước anh không có anh hùng mà sao lại phát triển và giàu có như vậy?&lt;/i&gt;” – “&lt;i&gt;À, đất nước tôi thì bù lại, được khá nhiều vị minh quân!&lt;/i&gt;”Thì ra chỉ một vị minh quân – hay mục tử nhân lành – cũng đủ quí giá và ích lợi cho đất nước và Giáo Hội hơn nhiều anh hùng hay cá nhân xuất sắc hợp lại! Cầu mong cho đất nước và Giáo Hội Việt Namcó được những minh quân!&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-2270093292230667815?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/2270093292230667815'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/2270093292230667815'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/hailoaimuctutrongthanhkinh.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-7800099509945438894</id><published>2009-08-06T18:46:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T18:49:14.504-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;Đừng hoạt động tông đồ chỉ để thăng tiến bản thân,&lt;br /&gt;mà hãy vì đại cuộc của Thiên Chúa&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt; 1. Bối cảnh của bài Tin Mừng&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đức Giêsu và các môn đệ đi băng qua miền Galilê một cách âm thầm không cho ai biết. Ngài muốn tạm gác việc loan báo Tin Mừng, giảng dạy và chữa bệnh cho dân chúng qua một bên để có thì giờ dạy dỗ các môn đệ, đặc biệt báo cho các ông biết một viễn cảnh sắp xảy ra mà các ông khó có thể hiểu và chấp nhận. Đó là «Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người…»  (Mc 9,31). Phải báo trước viễn cảnh ấy để chuẩn bị tinh thần cho các ông, để các ông không quá ngỡ ngàng và thất vọng khi nó xảy đến, mà sẵn sàng đón nhận nó. Đây không phải lần đầu tiên Ngài nói với các môn đệ điều này, Ngài đã từng &lt;b&gt;«nói rõ điều ấy không úp mở» &lt;/b&gt;với các ông trước đó không lâu (x. Mc 8,31-33), nhưng lúc đó các ông tỏ ra không thể chấp nhận được. Thái độ không chấp nhận này đã bị Đức Giêsu quở trách rất nặng lời, đến nỗi Ngài đã gọi Phêrô là: «Xatan!» khi ông muốn can Ngài. Chính vì lần trước các ông bị quở trách nặng nề như thế, nên lần này bài Tin Mừng cho biết: &lt;b&gt;«Các ông sợ không dám hỏi lại Người».&lt;/b&gt; &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Các môn đệ Đức Giêsu quan niệm rằng Thầy mình đến để giải phóng dân Do-thái về mặt chính trị, và Ngài sẽ làm vua. Điều các ông hằng mơ tưởng bấy lâu nay là: mai mốt khi Thầy mình làm vua thì mình cũng sẽ làm quan, nắm những chức vụ chủ chốt trong triều đình của Ngài. Nhưng những chức vụ chủ chốt ấy dẫu sao vẫn có chức lớn hơn chức nhỏ hơn, thế là các ông bàn tán với nhau xem ai là người được Đức Giêsu giao cho chức vụ lớn nhất. Nhưng thực tế không xảy ra như các ông nghĩ. Cách suy nghĩ của Thiên Chúa khác hẳn với cách suy nghĩ của con người. Sở dĩ các ông không thể chấp nhận việc Ngài chết, vì nếu Ngài chết thì những mơ tưởng đẹp đẽ của các ông sẽ biến thành mây khói, và các ông sẽ lại trở về với những thực tại tầm thường của mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt; 2. Hai não trạng: một vì đại cuộc, một vì thăng tiến bản thân&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy hai quan niệm, hai não trạng khác nhau giữa Đức Giêsu và các môn đệ Ngài. Đức Giêsu thì quan tâm tới đại cuộc của Thiên Chúa, và sẵn sàng hy sinh tất cả cho đại cuộc ấy. Còn các môn đệ thì lòng trí đang bị thu hút vào việc thăng tiến bản thân, coi việc được làm môn đệ Đức Giêsu như một cơ hội hết sức thuận lợi cho việc thăng tiến ấy. Các ông chưa nghĩ gì tới đại cuộc cũng như việc hy sinh cho đại cuộc cả. Não trạng của các môn đệ cũng là não trạng của tuyệt đại đa số Kitô hữu chúng ta. Nhưng muốn thật sự theo Đức Giêsu, tất cả chúng ta đều cần phải sửa đổi lại cách suy nghĩ của mình, đồng thời mặc lấy cách quan niệm và suy nghĩ của Ngài, là Thầy của chúng ta.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Thực ra, quan tâm hay lo lắng cho việc thăng tiến bản thân tự nó là điều rất tốt, đó là một động lực hợp pháp và tốt lành đã tạo nên biết bao nỗ lực hay công việc tốt đẹp ở trần gian này. Tuy nhiên, đối với những tâm hồn thiếu tình thương, ích kỷ, thiếu đạo đức, việc thăng tiến bản thân cũng là động lực làm nên bao tội ác. Biết bao người sẵn sàng đạp trên đầu trên cổ người khác, sẵn sàng âm mưu thâm độc, bỉ ổi, hèn hạ để hại người, giết người, hầu bước lên những địa vị cao cả ngoài xã hội cũng như trong Giáo Hội. Vì thế, lòng ham muốn thăng tiến bản thân là một con dao hai lưỡi: nó có thể tốt mà cũng có thể xấu. Nó chỉ tốt khi nào ta đặt nó dưới sự chỉ đạo của Luật Chúa, của tình thương, của lương tâm.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đối với những người thật sự muốn theo Chúa và tiến tới trên con đường nhân đức, thánh thiện, thì cần phải coi rất nhẹ việc thăng tiến bản thân để có thể hết mình với đại cuộc của Thiên Chúa. Để sẵn sàng hy sinh tất cả, dẫu là những cơ hội thăng tiến bản thân, thậm chí cả mạng sống mình, cho đại cuộc của Thiên Chúa. Đại cuộc của Thiên Chúa chính là kế hoạch cứu độ nhân loại, thăng tiến tâm linh con người, thực hiện Nước Trời không chỉ trong thế giới mai hậu mà còn ở ngay trần gian này.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Nói thế không có nghĩa là người theo Chúa phải luôn luôn khước từ mọi cơ hội thăng tiến bản thân, từ bỏ mọi địa vị hay quyền lực. Người thật sự hiến mình cho đại cuộc chỉ coi địa vị, quyền lực, danh vọng như những phương tiện để thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa, để phục vụ con người, và coi bản thân mình chỉ là dụng cụ mà Thiên Chúa dùng để thực hiện kế hoạch của Ngài mà thôi. Thái độ của họ đối với địa vị, quyền lực, danh vọng là không ham muốn cũng không tránh né: sẵn sàng đảm nhận khi thấy đó là một phương tiện để phục vụ tốt, nhưng cũng sẵn sàng từ khước khi thấy mình bất xứng hay khi có người khác xứng đáng hơn…&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Một số khá đông người trong Giáo Hội – từ giáo dân cho đến giáo sĩ – coi việc làm tông đồ, đời tu trì… như những cơ hội hay môi trường thuận lợi để thăng tiến bản thân mình. Họ cũng tỏ ra rất hăng hái nhiệt thành trong công việc của Chúa, nhưng động cơ thúc đẩy lại mang tính vị kỷ chứ không phải vị tha. Khi đã đạt được những chức vị cao trong Giáo Hội theo khả năng của mình, họ trở nên ù lỳ, ngại dấn thân, thích hưởng thụ… vì mục tiêu đã đạt được, không cần phải phấn đấu để lên cao hơn nữa… Nếu những cấp lãnh đạo Giáo Hội gồm toàn những hạng người này, thì Giáo Hội sẽ bị trì trệ, không phát triển được, nhất là khi Giáo Hội gặp phải những giai đoạn khó khăn, bị bách hại, đòi hỏi các cấp lãnh đạo phải dấn thân, phải thật sự hy sinh và quảng đại cho Giáo Hội.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;3. Người làm lớn phải có tinh thần phục vụ cao&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Bất kỳ tập thể nào – trong Giáo Hội hay ngoài xã hội – muốn thăng tiến cũng đều cần có những người tài đức biết quên mình để phục vụ cho sự phát triển và thăng tiến của tập thể. Nhưng những người phục vụ cho sự phát triển tập thể có thể được thúc đẩy bởi một trong hai động lực trái ngược nhau. Một đằng thật sự vì đại cuộc, vì ích lợi chung của tập thể. Và một đằng vì sự thăng tiến của bản thân (để đạt được những chức vụ cao, để nắm quyền hành trong tay, để được nổi tiếng, được ca tụng, tung hô, nể phục, để thỏa mãn nhu cầu &lt;b&gt;«phình to bản ngã»&lt;/b&gt; , để hưởng thụ cuộc đời). Người thật sự vì đại cuộc có thể hy sinh tất cả cho đại cuộc, còn người vì sự thăng tiến bản thân thì lại sẵn sàng hy sinh đại cuộc cho sự thăng tiến của mình. Hạng này coi đại cuộc như một phương tiện hữu hiệu để mình tiến thân.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Trong bài Tin Mừng hôm nay, trước tinh thần vì sự thăng tiến bản thân hơn là vì đại cuộc của các môn đệ, Đức Giêsu đưa ra nguyên tắc cho Nước Trời và Giáo Hội của Ngài: «Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người»(Mc 9,35). Ngài muốn khuyên những ai đang muốn thăng tiến bản thân hãy từ bỏ ý hướng vị kỷ ấy để hướng lòng về đại cuộc, về hạnh phúc chung của tất cả mọi người. Chỉ những người có tinh thần cao cả như thế mới xứng đáng làm lớn, giữ địa vị lãnh đạo. Và chỉ khi những người này nắm quyền lãnh đạo, Giáo Hội hay xã hội mới thật sự thăng tiến và phát triển.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Để cụ thể hóa tinh thần ấy, «Người đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói:  “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”»(Mc 9,36-37). Ngài muốn nói: người làm lớn phải coi trọng và phục vụ tất cả mọi người, dù là người bé mọn nhất trong xã hội hay Giáo Hội. Tính phân biệt giầu nghèo, sang hèn, thánh phàm, giáo sĩ giáo dân… đều không xứng hợp với những người lãnh đạo trong Giáo Hội hay trong Nước Trời. Khi đối xử tốt với một người giàu có hay có chức vị lớn, rất có thể ta làm vì một ý đồ ích kỷ. Nhưng khi đối xử tốt với một người nghèo hay một kẻ bé mọn, một trẻ em, thì việc đối xử ấy thường không vì một ý đồ ích kỷ mà vì tình thương. Đó cũng chính là làm cho Thiên Chúa hay Đức Giêsu. Cách hành động vị tha như thế phải là hành động của những người làm lớn trong Giáo Hội: luôn luôn hành động vì ích lợi hay hạnh phúc của mọi người chứ không vì sự thăng tiến hay hạnh phúc của mình.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-7800099509945438894?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/7800099509945438894'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/7800099509945438894'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/hayhoatdongtongdovidaicuoc.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-151563117702991288</id><published>2009-08-06T18:41:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T18:45:10.527-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;Đối tượng ưu tiên trong sứ mạng của Đức Giêsu&lt;br /&gt;là những người nghèo hèn, đau khổ, tội lỗi&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;1. Sự việc xảy ra trong lịch sử&lt;br /&gt;không vượt ra ngoài sự an bài của Thiên Chúa&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Việc Đức Giêsu sinh ra ứng nghiệm những lời tiên báo trước đó về Đấng Cứu Thế: Ngài là con người chứ không phải thiên thần (x. St 3,15; Dt 2,16), là người Do Thái, con cháu Abraham, chứ không phải dân tộc khác (St 12,1-3; Ds 24,17), thuộc dòng tộc Giuđa (St 49,10), là con cháu Đavít (2Sm 7,1-17), sinh tại Bêlem (Mk 5,2) bởi một người nữ đồng trinh (Is 7,14). Sự việc hoàng đế Augúttô ra lệnh kiểm tra dân số khiến Giuse và Maria phải rời Nadarét ở miền Bắc để vào Bêlem, quê hương của Giuse ở miền Nam, để khai tên tuổi xem ra là ý muốn của vị hoàng đế này. Điều này khiến gia đình vừa thành lập của Giuse và Maria phải điêu đứng khổ sở, và Đức Giêsu cũng phải chịu cực theo từ khi còn nằm trong bụng mẹ. Nhưng sự việc này không nằm ngoài sự xếp đặt của Thiên Chúa. Ngài là chủ tể của lịch sử, là Đấng điều khiển lịch sử. Nhờ đó, lời tiên tri nói Ngài sẽ sinh ra tại Bêlem mới ứng nghiệm. Ta nên nhận ra thánh ý và cách thế hành động của Ngài qua những biến cố lịch sử.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Qua sự việc trên, ta nhận ra rằng có những sự việc trong đời ta và trong lịch sử có vẻ hết sức phi lý dưới con mắt loài người, nhưng chúng không bao giờ vượt khỏi quyền năng và sự an bài khôn ngoan kỳ diệu của Thiên Chúa. Cũng qua sự việc này, ta thấy cách Thiên Chúa huấn luyện những người mà Ngài đặc biệt yêu thương như thế nào. Gia đình Ngài yêu thương nhất mà còn phải trải qua biết bao thử thách, đau khổ và nhục nhã như thế để được thánh hóa, để góp phần vào công việc cứu chuộc của Thiên Chúa, lẽ nào chúng ta muốn nên hoàn thiện, muốn góp phần vào việc của Ngài lại không phải trải qua đau khổ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;2. Tại sao Đức Giêsu sinh ra nghèo hèn, nhục nhã như thế?&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Điều đáng chúng ta suy nghĩ là Ngôi Hai Thiên Chúa giàu sang vinh hiển vô cùng lại hạ sinh làm người trong một hoàn cảnh nghèo khổ, cơ cực nhất trần gian. Ngài đã giáng sinh trong một chuồng súc vật hôi hám, lấy máng ăn dơ bẩn của chúng làm nôi để nằm. Tự đặt mình trong hoàn cảnh của Ngài, chắc chắn chúng ta sẽ cảm thấy nhục nhã lắm! Ngài chấp nhận như thế chỉ vì yêu thương con người, vì muốn nâng con người lên và muốn họ được hạnh phúc. Thánh Phaolô viết: «&lt;i&gt;Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có&lt;/i&gt;»(2Cr 8,9). Thật vậy, muốn tha nhân hạnh phúc mà mình lại không muốn hy sinh, không chấp nhận ít nhiều đau khổ vì họ, thì đó là một ước muốn không tưởng! Muốn nâng người khác lên mà lại cứ muốn trèo lên đầu lên cổ họ là một ước muốn phi lý! Người thật sự theo Chúa không thể hành động ngược lại với phương cách mà Ngài đã dùng. Nếu không theo cách của Ngài, ta chỉ là một kẻ theo Chúa giả hiệu mà thôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;3. Tại sao các mục đồng lại được loan báo đầu tiên?&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Tại sao tin mừng về việc Đức Giêsu sinh ra lại được loan báo trước tiên cho các mục đồng chứ không phải là các thượng tế, giới chức sắc và kinh sư trong tôn giáo? Đúng ra giới lãnh đạo Do Thái giáo phải được loan báo tin này trước nhất mới phải chứ? Thiên Chúa không hành động như thế. Các mục đồng tượng trưng cho giai cấp thấp hèn nhất, bị bỏ rơi nhất trong xã hội và tôn giáo. Điều này cho thấy trước rằng sứ mạng của Đức Giêsu là đến vì những người nghèo khổ, bị áp bức, những kẻ thấp cổ bé miệng nhất trong xã hội… Tin Mừng Ngài đem đến là thứ tin mừng giải phóng, chỉ những ai đang bị áp bức, bị giam hãm trong đau khổ, tội lỗi, mới cần được giải phóng. Vì thế, nó phải được loan báo đặc biệt ưu tiên và trước tiên cho những hạng người này. Cũng như Đức Giêsu, các ngôn sứ đích thực đều ưu tiên phục vụ, tranh đấu, lên tiếng bênh vực những người nghèo hèn, bé mọn hoặc tội lỗi. Hành động như thế thường gây bất lợi cho giới cầm quyền trong xã hội cũng như tôn giáo, vì thế các ngôn sứ thường bị họ căm ghét, mạ lị và bách hại (x. Lc 6,23).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chỉ có các ngôn sứ giả mới ưu tiên phục vụ những kẻ giàu sang, quyền thế, nhờ vậy mà họ được giới này ca tụng và ưu đãi (x. Lc 6,26). Họ chỉ muốn phục vụ cho cơ cấu hay tập thể đang đem lại địa vị, sự ưu đãi và quyền lợi cho họ. Phục vụ Thiên Chúa hay phục vụ tha nhân nhiều khi chỉ là chiêu bài họ dùng để được quần chúng ủng hộ mà thôi. Họ chỉ quan tâm phục vụ và củng cố những cơ cấu đem lại lợi ích trần tục cho họ, chứ không thật sự quan tâm phục vụ Thiên Chúa hay những người cùng khổ. Ngôn sứ thật và ngôn sứ giả khác nhau ở điểm này, mặc dù bên ngoài họ không mấy khác nhau. Tuy nhiên phân biệt ngôn sứ thật và ngôn sứ giả rất dễ, chỉ cần nhìn vào việc làm hay cách hành xử của họ là nhận ra ngay. Đức Giêsu nói: «&lt;i&gt;Hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt&lt;/i&gt;»(Mt 7,17-18). Những ai chỉ ưu đãi hoặc coi trọng những người giàu sang quyền thế, đồng thời coi thường hay bạc đãi những người nghèo hèn khốn khổ, chắc chắn không thể là một ngôn sứ đích thực.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;span &gt;Ngôn sứ thật thì hành động như Đức Giêsu: luôn luôn dành thì giờ và năng lực của mình ưu tiên cho những người bé mọn, hèn kém, đau khổ. Tâm tư Ngài lúc nào cũng hướng đến hạng người này, luôn tìm cách nâng đỡ, bênh vực họ. Dấu hiệu để nhận ra Ngài có phải là Đấng Cứu Thế hay không, được chính Ngài xác nhận: «&lt;i&gt;Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng&lt;/i&gt;»(Mt 11,5-6). Ngài thường tự đồng hóa mình với người nghèo hèn đau khổ, đến nỗi ai làm gì cho những người này là làm cho chính Ngài (x. Mt 25,40.45). Ngài đòi hỏi những ai muốn theo Ngài phải yêu thương người nghèo như một điều kiện tiên quyết phải có để theo Ngàivà để có sự sống đời đời: «&lt;i&gt;Hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi&lt;/i&gt;»(Mt 19,16.21; x. Mc 10,17.21). Các ngôn sứ đích thực xưa nay đều có tinh thần ấy. Trong thời đại chúng ta, vẫn luôn có những con người như Martin Luther King (Mỹ da đen), ĐGM Oscar Romero (Salvador), LM Jer zy Popieluszko (Ba Lan)… Các vị này đã coi việc bênh vực người nghèo, người bị áp bức quan trọng hơn cả sự an toàn bản thân, thậm chí hơn cả mạng sống mình. Họ chính là gương mẫu của những người theo Chúa đích thực.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đức Giêsu đã sinh ra nghèo hèn, đã sống như người nghèo, đã chịu biết bao đau khổ, đã bị bách hại áp bức. Ngài đã yêu thương người nghèo khổ, tội lỗi, đã ưu tiên dành thì giờ và sức lực để phục vụ họ. Chúng ta, những Kitô hữu, những người muốn theo Ngài, cần nhận thức được rằng, theo Đức Giêsu không phải chỉ là lãnh nhận bí tích rửa tội, thêm sức hay bất kỳ bí tích nào khác. Không phải chỉ là vào một hội đoàn, một dòng tu hay chủng viện. Cũng không phải chỉ là làm một giáo dân, linh mục hay tu sĩ, v.v… Mà là sống theo tinh thần của Ngài, tức tinh thần từ bỏ mình, quên mình, để xả thân cho anh chị em mình, nhất là những người đau khổ, nghèo hèn, thấp cổ bé miệng. Chính Đức Giêsu là gương mẫu cho chúng ta về tinh thần này, suốt từ khi sinh ra nghèo hèn đến khi chết thê thảm trên thập giá. Chúng ta cần bắt chước Ngài, sống đúng tinh thần của Ngài.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-151563117702991288?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/151563117702991288'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/151563117702991288'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/doituonguutienlanguoingheokhotoiloi.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-3259754689732626599</id><published>2009-08-06T18:36:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T18:41:01.991-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;Đàn chiên nào cũng rất cần những mục tử&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;biết «chạnh lòng thương»&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;b&gt;&lt;/b&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;1. Khả năng «chạnh lòng thương»và hy sinh cho dân chúng&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Bài đọc 1 nói về những mục tử xấu và về lời Thiên Chúa hứa hẹn sẽ ban cho dân những mục tử tốt. Vì thế, qua bài Tin Mừng được ghép với bài đọc I, Giáo Hội muốn nói tới khả năng yêu thương của người mục tử, đặc biệt khả năng &lt;b&gt;«chạnh lòng thương»&lt;/b&gt; như Đức Giêsu trước những đau khổ của dân chúng, khả năng hy sinh để cứu khổ và đem lại hạnh phúc cho họ. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Bài Tin Mừng cho thấy sự đói khát chân lý của dân chúng. Họ chẳng những nghèo về vật chất, mà còn nghèo về kiến thức, về khả năng suy nghĩ, về văn hóa, về tâm linh, vì không ai chỉ dẫn dạy bảo họ. Khi thấy Đức Giêsu giảng dạy «như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư»(Mt 7,29), họ theo Ngài rất đông. Sau khi rao giảng và dạy dỗ họ đã lâu, Đức Giêsu và các môn đệ cảm thấy mệt và cần nghỉ ngơi, nên phải &lt;b&gt;«lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút»&lt;/b&gt; . &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Nhưng dân chúng vẫn còn ham muốn được nghe Ngài dạy bảo, nên không để cho Ngài và các môn đệ nghỉ ngơi, mà lại tiếp tục bám sát các ngài đến nỗi các ngài &lt;b&gt;«chẳng có thì giờ ăn uống nữa»&lt;/b&gt; . Trước tình cảnh này, đáng lẽ Đức Giêsu từ chối họ vì Ngài và các môn đệ cần phải nghỉ ngơi và cầu nguyện, đó là những nhu cầu hết sức chính đáng của các ngài. Nhưng Ngài không làm như vậy mà lại &lt;b&gt;«bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều»&lt;/b&gt; . &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Tại sao? Vì Ngài luôn luôn &lt;b&gt;«chạnh lòng thương»&lt;/b&gt; trước nỗi cùng khốn của họ, «họ như bầy chiên không người chăn dắt». Tình thương bao la đã khiến Ngài trở nên rất nhạy cảm trước nhu cầu cũng như nỗi thống khổ của mọi người. Tình thương ấy đòi buộc Ngài phải làm cho họ một cái gì.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt; 2. Mọi mục tử cần có khả năng «chạnh lòng thương»&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Ước gì mọi mục tử - là những người muốn noi gương Đức Giêsu một cách đặc biệt và triệt để hơn những Kitô hữu bình thường khác - cũng có khả năng &lt;b&gt;«chạnh lòng thương»&lt;/b&gt; trước những nỗi cùng khốn của những «con chiên» mình chăn dắt. &lt;b&gt;«chạnh lòng thương»&lt;/b&gt; để sẵn sàng hy sinh cho họ: chẳng hạn hy sinh giấc nghỉ trưa, giờ đọc kinh nguyện, thậm chí cả giờ nghỉ đêm… khi họ cần mình giúp đỡ. Tôi có quen và rất cảm phục một linh mục nọ: khi có một bệnh nhân ở một bệnh viện nào kêu ngài đến xức dầu hoặc giải tội, ngay cả vào ban đêm hay khi trời mưa, thì ngài đều sẵn sàng lên đường đến với họ. Họ không biết kêu ai ngoài ngài trong những trường hợp đặc biệt ấy, vì hầu hết các linh mục khác gần bệnh viện đều từ chối. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Thế rồi người này nói với ngài kia về sự sẵn sàng của ngài, nên về sau người ta chỉ còn biết đến với Ngài, dù họ ở những bệnh viện khá xa. Điều khiến tôi phục ngài sát đất là khả năng &lt;b&gt;«chạnh lòng thương»&lt;/b&gt; của Ngài qua nhiều năm tháng vẫn không suy giảm, khiến ngài luôn luôn sẵn sàng đến với những ai đau khổ, dù sức khỏe ngài không được tốt lắm. Và nhất là vì ngài luôn luôn rất bận: ngài là cha phó một xứ lớn, và cũng là một nhà nghiên cứu, viết lách, đồng thời còn bận làm một số công tác trong giáo phận. Tôi hằng cầu nguyện cho Giáo Hội Việt Namcó được nhiều linh mục như ngài!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;3. Đời có biết bao cảnh khổ đau để ta «chạnh lòng thương»&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Đức Phật nói: «Đời là bể khổ». Quả thật, đời người có biết bao nỗi khổ, nhất là trong những đất nước theo những thể chế phi nhân, độc tài: dân chúng nghèo nàn, lầm than, khổ sở trong một xã hội đầy dẫy áp bức, bất công. Trong những xã hội như thế, người mục tử - vốn là hiện thân của Đức Giêsu - cần phải có khả năng &lt;b&gt;«chạnh lòng thương»&lt;/b&gt; hơn bất kỳ ở đâu khác. Trong xã hội Do-thái xưa, Đức Giêsu đi tới đâu mà gặp những người đau khổ cần cứu giúp thì Ngài luôn luôn ra tay, không bao giờ từ chối: «Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó»(Cv 10,38). &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Hiện nay, Ngài không còn ở trần gian để «thi ân giáng phúc» như thế nữa, nhưng Ngài đã lập nên một đội ngũ mục tử - gồm những người tình nguyện tiếp nối sứ mạng «mục tử» của Ngài - để thay Ngài và nhân danh Ngài «thi ân giáng phúc» cho tất cả những ai đau khổ. Nhờ vậy, Ngài vẫn có thể rao giảng chân lý, nói những lời an ủi mọi người qua miệng các mục tử ấy. Ngài vẫn có thể lắng nghe mọi người bằng đôi tai của các mục tử. Ngài vẫn yêu thương bằng con tim của họ. Ngài vẫn phục vụ bằng đôi tay họ. Ngài vẫn đến với mọi người bằng đôi chân của họ. Ngài làm tất cả những điều tốt đẹp cho mọi người bằng bản thân của họ. Các mục tử chính là hiện thân của Ngài giữa lòng thế giới đầy đau khổ này. Nếu mọi mục tử của Ngài đều thật sự sống đúng điều họ đã cam kết khi dấn thân làm mục tử thì dân chúng sẽ bớt được biết bao đau khổ!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt; 4. Những «mục tử ghẻ»&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Nhưng than ôi, nếu thời nào cũng có những «con chiên ghẻ» thì thời nào cũng có những &lt;b&gt;«mục tử ghẻ»&lt;/b&gt; như ngôn sứ Giêrêmia mô tả trong bài đọc I. Những &lt;b&gt;«mục tử ghẻ»&lt;/b&gt;là những mục tử có trái tim bằng đá chứ không phải bằng thịt (x. Ed 36,26), không có khả năng &lt;b&gt;«chạnh lòng thương»&lt;/b&gt; như Đức Giêsu. Vì thế, họ sẵn sàng làm ngơ và lạnh lùng quay mặt đi trước những bất hạnh cùng cực của người khác, trước những cánh tay đưa lên van xin họ cứu giúp một cách tuyệt vọng. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Họ có thể điềm nhiên nhìn những cảnh bất công xảy ra nhan nhản trước mắt cho chiên của mình mà trong lòng không cảm thấy mình phải làm một cái gì, hay phải nói lên một lời nào để cải thiện những cảnh ấy. Họ sợ bị phiền hà đến bản thân nên sẵn sàng tỏ ra vô trách nhiệm trước mọi cảnh áp bức xảy đến với chiên của mình. Họ được Đức Giêsu mô tả như những kẻ chăn chiên thuê: «Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn» (Ga 10,12). &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Tệ hơn nữa, nhiều &lt;b&gt;«mục tử ghẻ»&lt;/b&gt; lại còn vì quyền lợi của mình mà sẵn sàng ngấm ngầm đứng về phe kẻ ác, bênh vực kẻ gây bất công. Những mục tử này có thể là thầy dạy về đức tin, về tình thương. Họ tuyên xưng đức tin ngoài miệng rất mạnh mẽ, lên án gắt gao những ai chỉ tuyên xưng khác với mình một chút. Nhưng khi gặp những tình huống cần phải chứng tỏ đức tin thực tế của mình, người ta mới thấy đức tin ấy chỉ là thứ &lt;b&gt;«đức tin chết»&lt;/b&gt; (Gc 2,26; x. 2,17), hay đức tin ngoài vỏ, rỗng ruột. Những bài giảng về tình thương của họ nghe rất tuyệt vời, nhưng khi cần phải chứng tỏ bằng thực tế chính tình thương của mình, người ta mới thấy tình thương của họ chỉ là tình thương ngoài miệng lưỡi. &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Trong một xã hội phi nhân và bất công, &lt;b&gt;«đàn chiên»&lt;/b&gt; của những &lt;b&gt;«mục tử ghẻ»&lt;/b&gt; ấy nhiều khi phải mang hai lần ách: ách đời thường vốn đã nặng lại còn phải gánh thêm ách đạo nặng không kém, vì thế họ trở nên bất hạnh gấp đôi những kẻ bất hạnh khác. Trái lại, một mục tử tốt lành luôn luôn làm cho mọi người đến với mình cảm thấy được trút bớt gánh nặng, hoặc cảm thấy mạnh sức hơn để có thể nhấc bổng gánh nặng của mình. Kitô giáo đúng nghĩa phải đem lại giải phóng chứ không hề chất thêm gánh nặng cho con người. Mọi mục tử phải nói được như Đức Giêsu: «Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ bồi dưỡng cho» (Mt 11,28).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;5. Số phận của những mục tử&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Nếu những mục tử tốt lành sẽ được Thiên Chúa chúc phúc và ân thưởng, thì những mục tử xấu sẽ bị Thiên Chúa ra án phạt nghiêm khắc. Trong bài đọc I, ngôn sứ Giêrêmia nói về số phận các mục tử xấu ấy: «Khốn thay những mục tử làm cho đoàn chiên Ta chăn dắt phải thất lạc và tan tác. Này Ta sẽ để ý đến các hành vi gian ác của các ngươi mà trừng phạt các ngươi»(Gr 23,1-2). &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Ngôn sứ Dacaria cũng viết: «Ta sẽ bừng bừng nổi giận đánh phạt các mục tử» (Dc 10,3); «Hãy nghe tiếng rú của các mục tử, vì vẻ huy hoàng của chúng đã tiêu tan»(11,3). &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; Những mục tử xấu đáng trừng phạt. Vì thế, nếu không có khả năng &lt;b&gt;«chạnh lòng thương»&lt;/b&gt; trước những đau khổ của con người, tốt hơn không nên làm mục tử. Đã nhận sứ mạng làm mục tử thì phải biết yêu thương đàn chiên. Những mục tử không thương đàn chiên, bỏ mặc chiên cho sói ăn thịt, hoặc còn hùa theo những kẻ gian ác để hại đàn chiên thì có thể được ưu đãi, trọng vọng, được sung sướng, được hưởng nhiều ân huệ và đặc quyền đặc lợi mà những kẻ bóc lột đàn áp chiên dành cho. Nhưng rốt cuộc cuộc đời họ sẽ kết thúc trong đau khổ, họ sẽ mang tiếng xấu muôn đời. Những vết nhơ, những vết đen trong lịch sử cuộc đời họ làm sao có thể rửa sạch được? Danh thơm tồn tại mãi, mà tiếng xấu cũng không bao giờ phai. Người đời vẫn thường nói: «Trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ». &lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-3259754689732626599?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/3259754689732626599'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/3259754689732626599'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/danchiencanmuctubietchanhlongthuong.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-4646132296395661896</id><published>2009-08-06T18:32:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T18:35:48.945-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;Yêu mình cách sáng suốt&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;1. «Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất»&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Người ta ai cũng yêu mình. Đó là điều rất tự nhiên và chính đáng. Chính Đức Giêsu đã từng nói: «&lt;i&gt;Hãy yêu đồng loại như &lt;b&gt;yêu chính mình&lt;/b&gt;&lt;/i&gt;»(Mt 19, 19). Thánh Phaolô cũng nói: «&lt;i&gt;Chồng phải yêu vợ như &lt;b&gt;yêu chính thân thể mình&lt;/b&gt;. Yêu vợ là &lt;b&gt;yêu chính mình&lt;/b&gt;. Không ai ghét thân mình bao giờ&lt;/i&gt;»(Ep 5, 28-29). Chính vì yêu mình, nên ai cũng có bản năng tự vệ, tự giữ lấy mạng sống, và không ai chịu liều mất mạng sống mình nếu không phải vì những lý do rất đặc biệt. Thế mà Đức Giêsu lại nói: «&lt;i&gt;Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được&lt;/i&gt;». Có gì mâu thuẫn và không hợp lý chăng?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ai cũng yêu mình, nhưng có hai cách yêu: yêu mình cách sáng suốt, và yêu mình cách ngu xuẩn. Yêu mình cách sáng suốt là yêu làm sao để chính mình được hạnh phúc. Còn yêu mình cách ngu xuẩn là yêu mình nhưng lại làm cho mình đau khổ. Vấn đề mấu chốt của việc yêu mình sáng suốt là ở chỗ nhận định được mình là gì, và những gì là mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;2. Yêu mình cách sáng suốt và yêu mình cách ngu xuẩn&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;a) &lt;i&gt;Minh họa 1&lt;/i&gt;: Một người thích uống rượu, thích ăn những đồ ăn nhiều chất mỡ. Nhưng bác sĩ khuyên anh ta đừng uống rượu kẻo hại gan, đừng ăn đồ nhiều mỡ kẻo hại mạch máu. Nhưng anh ta nghĩ: gan không phải là mình, mạch máu cũng không phải là mình, chúng làm sao thây kệ chúng, không liên quan gì tới mình cả. Mình thương mình thì mình cứ ăn uống cho thỏa thích: «&lt;i&gt;Vui xuân kẻo hết xuân đi, cái già sồng sộc nó thì theo sau&lt;/i&gt;»! Chẳng bao lâu sau, anh bị viêm gan và cao huyết áp trầm trọng, phải đau đớn rất nhiều, và cuối cùng chết sớm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cái sai lầm của anh này là nghĩ gan của mình, dạ dày của mình, phổi của mình… không phải là mình, nên không thương chúng, bỏ mặc chúng không thèm chăm sóc, để rồi chúng bị thương tổn, bị bệnh. Khi chúng bị bệnh thì bản thân anh cũng bị bệnh theo. Lúc đó anh mới biết chúng cũng là mình, thương chúng chính là thương mình, chăm sóc chúng chính là chăm sóc mình. Còn thương mình kiểu cứ ăn uống cho mình được thỏa thích bất chấp chúng ra sao thì ra, chính là làm hại mình, là tự giết mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;b) &lt;i&gt;Minh họa 2&lt;/i&gt;: Một anh có vợ và một bầy con, nhưng anh chẳng quan tâm gì tới vợ con, anh chỉ biết lo cho bản thân anh, thậm chí còn đánh đập vợ con không thương tiếc khi bị trái ý. Anh còn mèo chuột lăng nhăng làm vợ con rất đau khổ. Chẳng bao lâu sau anh bị bệnh, không còn làm được việc gì. Lúc này anh rất cần vợ con nuôi dưỡng, chăm sóc anh. Nhưng vì anh đã đối xử quá tệ với vợ con, nên bây giờ anh bị hất hủi và đau khổ. Bây giờ anh mới nhận ra thương vợ con là thương chính bản thân mình, và chăm sóc vợ con cũng là chăm sóc chính bản thân mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúng ta còn có thể đưa ra nhiều minh họa khác chứng tỏ quần áo ta mặc, đôi giày ta đi dưới chân cũng là bản thân ta, những người sống chung quanh ta cũng chính là bản thân ta, v.v… Bên Phật giáo, từ ngữ «&lt;i&gt;tăng thân&lt;/i&gt;»có nghĩa là &lt;i&gt;thân được thêm vào bản thân của ta, bao gồm tất cả mọi người, mọi vật trong vũ trụ mà ta có cảm tưởng là ở bên ngoài ta&lt;/i&gt;. Theo giáo lý Đức Phật, tất cả mọi chúng sinh và tất cả những vật vô tri trong vũ trụ cũng là bản thân ta. Ta yêu chúng cũng là yêu chính ta, ta ghét chúng cũng là ghét chính ta. Ta làm cho chúng tốt đẹp hạnh phúc cũng chính là làm cho ta nên tốt đẹp hạnh phúc. Ta làm cho chúng xấu xa đau khổ cũng chính là làm ta nên xấu xa đau khổ. Vì thế, yêu mình một cách sáng suốt chính là biết yêu thương tất cả mọi người, mọi vật. Yêu mình một cách ngu xuẩn là do quan niệm về mình một cách quá giới hạn, tưởng rằng mình chỉ là thân xác mình, và chỉ biết đối xử tốt với nó, còn mặc kệ không thèm quan tâm chăm sóc đến những gì không phải là thân xác mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;3. Thiên Chúa chính là bản thân sâu thẳm nhất của ta&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Thánh Âu Tinh nói: «&lt;i&gt;Thiên Chúa còn thân mật với tôi hơn chính bản thân tôi thân mật với tôi&lt;/i&gt;»(Deus intimior intimo meo). Nói cách khác, Thiên Chúa còn &lt;i&gt;là tôi&lt;/i&gt; hơn cả chính bản thân tôi, Thiên Chúa là «&lt;i&gt;cái tôi&lt;/i&gt;» sâu xa nhất của tôi. Chính vì thế, yêu Chúa bao nhiêu thì cũng là yêu mình bấy nhiêu. Và tương tự, yêu tha nhân thế nào cũng chính là yêu mình thế nấy. Thiên Chúa, tha nhân, và bản thân ta, &lt;i&gt;một cách nào đó&lt;/i&gt; chỉ là một. Theo triết lý nhất nguyên của Đông phương, thì toàn thể những gì hiện hữu chỉ là một bản thể duy nhất, được thể hiện thành muôn vật dưới muôn hình vạn trạng trong thế giới hiện tượng. Trong nhãn quan của triết lý này, ta cảm thấy rất dễ hiểu việc yêu Thiên Chúa, yêu tha nhân cũng là yêu chính bản thân ta.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chỉ có một điều là ta có thể cảm nghiệm được thân xác ta là ta một cách trực tiếp, nhưng phải có trí tuệ cao mới có thể cảm nghiệm được Thiên Chúa hay tha nhân cũng chính là ta một cách gián tiếp. Thực ra, ta chỉ có thể cảm nhận một cách trực tiếp nhất ý nghĩ của ta là ta, rồi mới cảm nghiệm được thân xác ta với các cơ quan của nó là ta. Vì thế, những gì ta lo cho thân xác ta thì có hậu quả thấy được ngay trước mắt. Còn những gì ta lo cho Thiên Chúa, cho tha nhân thì phải một thời gian sau – nghĩa là lâu hơn ít nhiều – mới thấy được hậu quả nơi ta.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Điều ấy có khác gì hai cách dùng tiền: một đằng là dùng tiền để mua ngay những gì cần thiết hay ích lợi cho bản thân, một đằng là dùng tiền để kinh doanh hầu có lợi lâu dài về sau. Cách trước thì sự hưởng thụ ích lợi đến ngay với mình, nhưng chỉ một thời gian là hết. Cách sau thì sự hưởng thụ đến với mình có thể rất chậm, nhưng sẽ rất lâu dài, thậm chí không bao giờ hết. Từ đó ta hiểu được tại sao yêu Thiên Chúa và tha nhân thì có được sự sống đời đời hay hạnh phúc vĩnh cửu, còn lối sống ích kỷ thì chỉ có được sự sống hay hạnh phúc tạm bợ mà thôi, để rồi sau đó là sự chết hay đau khổ lâu dài.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;4. Hãy yêu Thiên Chúa hơn cả cha mẹ, anh em, con cái mình&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Như đã nói trên, Thiên Chúa và tha nhân một cách nào đấy cũng chính là bản thân mình, nên yêu Thiên Chúa và tha nhân cũng là yêu chính bản thân mình. Nhưng Thiên Chúa mới chính là bản thân mình một cách sâu xa nhất. Vì thế, để yêu mình một cách sáng suốt và đem lại hạnh phúc lâu dài, người ta nên hy sinh bản thân cho tha nhân và Thiên Chúa. Và yêu tha nhân cũng chính là yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa thì trừu tượng, không thấy được, nên yêu Chúa một cách cụ thể là yêu tha nhân, nhưng hãy ưu tiên yêu người gần gũi với mình nhất, rồi đến những người xa hơn, và phải yêu thương tất cả không trừ một ai, dù là kẻ thù. Thánh Gioan viết: «&lt;i&gt;Nếu ai nói: "Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy&lt;/i&gt;»(1Ga 4, 20). Nhưng giả như có sự xung đột giữa việc yêu Chúa và yêu tha nhân, thì ta luôn luôn phải dành ưu tiên cho Thiên Chúa. Nhưng một cách thực tế, yêu Thiên Chúa luôn luôn đồng nghĩa với yêu tha nhân, nên trong những trường hợp có sự xung đột này, ta thường phải hy sinh tình yêu tha nhân mang tính cá biệt cho tình yêu tha nhân mang tính đại đồng. Một cách cụ thể là phải đặt tình yêu chung lên tình yêu riêng, tình yêu đối với thế giới, với quê hương đất nước, với xã hội và Giáo Hội lên trên tình yêu đối với cha mẹ, anh em, con cái. Và làm như thế chính là yêu cha mẹ, anh em, con cái một cách sáng suốt nhất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chính trong nhãn quan này, ta sẽ dễ hiểu hơn câu nói của thánh Phanxicô: «&lt;i&gt;Chính lúc quên mình (để yêu Thiên Chúa và tha nhân) là lúc gặp lại bản thân&lt;/i&gt;». Vậy, để yêu mình cách sáng suốt nhất, hãy yêu Thiên Chúa và tha nhân một cách tích cực và chân thành.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-4646132296395661896?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/4646132296395661896'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/4646132296395661896'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/yeuminhcachsangsuot.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-4681203529165198345</id><published>2009-08-06T18:30:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T18:31:50.839-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;Tránh tự mãn để hiểu biết&lt;br /&gt;và kinh nghiệm về Thiên Chúa hơn&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;1. Muốn đạt chân lý, phải dấn thân trọn vẹn cho chân lý&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Một nhà thông thái nọ đến xin một đạo sư truyền đạo cho mình. Đạo sư bèn lấy trà ra để tiếp khách. Nhưng ông làm một điều rất kỳ lạ: nước đã đầy và tràn ra mà ông vẫn cứ rót tiếp. Người khách ngạc nhiên hỏi ông tại sao lại làm như vậy. Đạo sư đáp: «&lt;i&gt;Tâm hồn và lòng trí ông cũng đầy ắp như tách trà này rồi, làm sao chứa thêm những chân lý về đạo được nữa?&lt;/i&gt;»&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kinh nghiệm cho tôi thấy: một khi lòng trí tôi mải miết lo chuyện gì, thì tôi không thể mải miết với chuyện khác được, nhất là những chuyện có tính chất trái ngược với chuyện tôi đang mải miết say mê. Đó là một định luật tâm lý rất phổ quát. Cũng vậy, một người đang say mê những chuyện trần tục, những chuyện tầm thường, người ấy khó có thể nhập tâm và hiểu được những chân lý siêu việt của tôn giáo. Vì muốn hiểu và cảm nghiệm được những chân lý này, con người phải dấn thân trọn vẹn cho chân lý. Chân lý tôn giáo giống như viên ngọc quý hay kho báu dấu trong ruộng, phải bán hết tất cả những gì mình có mới mua được (x. Mt 13,44-46). Đối với những ai trong lòng đang đầy ắp «cái tôi» vị kỷ của mình cũng vậy, lòng trí họ không còn chỗ nào cho Thiên Chúa hay Đức Giêsu sống và hoạt động trong họ nữa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;2. Phá chấp, phá «sở tri chướng»&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Học sinh cấp một được cô giáo dạy: không được lấy số nhỏ trừ số lớn, vì không thể có 3 trái cam mà lại ăn hết 5 trái được. Với trí óc của em, điều đó hoàn toàn hợp lý, không thể khác được. Nhưng nếu em cứ cố chấp với kiến thức hạn hẹp ấy, em sẽ không thể chấp nhận khái niệm về &lt;i&gt;số âm&lt;/i&gt; khi em bắt đầu học cấp 2, coi việc lấy số nhỏ trừ số lớn là chuyện bình thường.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng vậy với các học sinh cấp hai. Các em được dạy rằng trong căn hiệu bậc hai không thể có số âm, vì số trong căn hiệu được giả thiết là bình phương của một số, mà đã là bình phương thì không thể là số âm được. Đối với trình độ cấp 2 của các em, điều đó thật hợp lý, và không thể khác hơn được. Nhưng nếu các em cứ cố chấp với kiến thức cố hữu này, các em sẽ không thể chấp nhận được khái niệm về &lt;i&gt;số ảo&lt;/i&gt; được dạy trong chương trình giải tích ở đại học, cho phép có số âm trong căn hiệu bậc chẵn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Còn nhiều thí dụ khác tương tự trong lãnh vực toán học, vật lý, hóa học, sinh học… Tương tự, với những kinh nghiệm và kiến thức trần gian, nếu cứ chấp vào đó, người ta không thể hiểu được những chân lý cao sâu về tâm linh trong tôn giáo. Cứ chấp cứng vào những quan niệm hay lề lối suy tư của tôn giáo này, ta sẽ vô phương hiểu được quan niệm hay lề lối suy tư của các tôn giáo khác. Hoặc cố chấp vào những điều mà ta cho là chân lý bất biến ở trình độ này, ta không thể tiếp thu được những chân lý ở trình độ cao hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;3. Ai tự mãn với những gì mình đã biết sẽ không thể biết thêm&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Cái lý tất yếu ấy, Đức Giêsu đã nói đến: «&lt;i&gt;Lạy Cha, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho các bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn&lt;/i&gt;»(Mt 11,25). «&lt;i&gt;Các bậc khôn ngoan thông thái&lt;/i&gt;»ở đây không có nghĩa là những người khôn ngoan thông thái đích thực, mà đúng hơn là những kẻ tự mãn với sự thông thái của mình, cho rằng sự hiểu biết của mình đã viên mãn, tràn đầy, không cần phải học hay tìm hiểu thêm gì nữa. Một người tuy dốt nát hiểu biết không hơn ai, nhưng lại tự mãn về sự hiểu biết của mình, cũng được liệt vào hạng này. Họ giống như tách trà đã đầy ắp tới miệng, không thể chứa thêm giọt nước nào nữa. Còn «&lt;i&gt;những người bé mọn&lt;/i&gt;»ở đây không có nghĩa là những người nhỏ bé, địa vị thấp kém, ít học hành, ít kiến thức, mà có nghĩa là những người tự cho mình là còn biết rất ít, hoặc chưa biết gì cả. Những người này bao gồm cả những người hết sức thông thái nhưng không cho rằng mình biết tất cả, vẫn sẵn sàng lắng nghe và học hỏi nơi người khác. Tâm hồn họ như một ly chưa đầy, sẵn sàng đón nhận những gì từ ngoài vào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai hạng người trên, với thời gian, hạng thứ nhất – tự mãn với những hiểu biết của mình – sẽ không tiếp nhận thêm được gì nữa, nên dần dần sẽ bị lạc hậu khi sống trong một thế giới hay xã hội ngày càng tân tiến. Họ cho rằng những điều họ từng tiếp thu được đã viên mãn, trọn vẹn, là những chân lý bất biến rồi, nên không thể chấp nhận điều gì khác hay ngược với những kiến thức ấy. Họ cố chấp với những hiểu biết ấy, nên không thể tiến xa và lên cao hơn được nữa. Họ như một học sinh cấp một, cứ nhất định rằng không thể lấy số nhỏ trừ số lớn được, nên từ chối không học cấp hai, vì không chấp nhận được khái niệm về số âm. Phật giáo gọi sự cố chấp này là «&lt;i&gt;sở tri chướng&lt;/i&gt;», nghĩa là chính sự hiểu biết của mình là chướng ngại cản trở mình hiểu biết thêm. Còn hạng thứ hai, cho dù hiểu biết nhiều tới đâu, vẫn cảm thấy mình còn rất nhiều điều chưa biết, và những gì mình đã biết còn rất phiến diện, thiếu sót, nên không tự mãn mà khao khát và sẵn sàng học hỏi thêm. Vì thế, họ vẫn còn khả năng tiếp thu thêm những điều mới lạ. Socrate, một triết gia lỗi lạc thời thượng cổ, nói: «&lt;i&gt;Điều tôi biết chắc chắn là: tôi không biết gì cả&lt;/i&gt;». Những người có thái độ như ông, cho dù có thông thái tới đâu, cũng là «&lt;i&gt;những kẻ bé mọn&lt;/i&gt;» mà như Đức Giêsu nói, sẽ được Chúa Cha mặc khải cho những chân lý quan trọng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;4. Bé mọn trong đời sống tâm linh&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Để hiểu biết về thế giới vật chất hữu hạn này mà người ta đã phải phá chấp không biết bao nhiêu lần mới có thể tiến bộ và lên cao hơn cấp độ mình đang có. Để hiểu được một giả thuyết khoa học mới, phải chấp nhận giả thuyết cũ là còn thiếu sót. Vật chất hữu hạn mà còn vậy, huống hồ Thiên Chúa vô hạn, siêu việt, siêu nghiệm, không bao giờ hiểu cho hết được! Vì thế, để hiểu biết về Thiên Chúa, nếu ta cứ tự mãn hay cố chấp vào những hiểu biết cũ thì ta sẽ ở mãi trong trình độ thấp kém của mình, không thể tiến xa hơn được. Đúng ra càng sống đạo lâu, sự hiểu biết, khám phá và kinh nghiệm về Thiên Chúa của ta càng phải mới lạ, sâu xa và phong phú hơn. Thánh Phaolô viết: «&lt;i&gt;Với thời gian, lẽ ra anh em phải là những bậc thầy, thế mà anh em lại cần phải để cho người ta dạy anh em những điều sơ đẳng về các sấm ngôn của Thiên Chúa: thay vì thức ăn đặc, anh em vẫn còn phải dùng sữa. Thật vậy, phàm ai còn phải dùng sữa, thì không hiểu gì về đạo lý liên quan đến sự công chính, vì người ấy vẫn là trẻ con. Thức ăn đặc thì dành cho những người đã trưởng thành, những người nhờ thực hành mà rèn luyện được khả năng phân biệt điều lành điều dữ&lt;/i&gt;»(Dt 5,12-14). Khi còn nhỏ, ta chỉ có thể ăn sữa, và ăn sữa là đủ để ta sống. Nhưng khi lớn lên, thức ăn lỏng như sữa không cung cấp đủ năng lượng cần thiết để ta sống và sinh hoạt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng vậy đối với đời sống tâm linh. Khi mới bước vào đời sống tâm linh, ta cần dùng một thức ăn tâm linh sơ đẳng: chẳng hạn ta cầu nguyện bằng những lời kinh đã dọn sẵn, nhờ đó ta tập nói chuyện với Chúa. Và lúc đó thức ăn tâm linh đó đủ cho sự sống tâm linh còn non nớt của ta. Nhưng nếu ta không nâng cấp cách cầu nguyện ấy lên, tâm linh ta không thể lớn lên được. Cách cầu nguyện đơn giản ấy không đem lại đủ sức mạnh để ta chu toàn những phận sự ngày càng khó khăn và nặng nề hơn của ta, không giúp ta vượt qua được những trở ngại lớn lao mà ta gặp trên đường đời, và thắng được những cơn cám dỗ mạnh mẽ. Ta cần thực tập những cách cầu nguyện cao hơn: cầu nguyện tự phát bằng chính những tâm tình có thật, những nhu cầu có thật của ta. Hoặc cao hơn nữa, cầu nguyện bằng cách ý thức sâu xa sự hiện diện của Thiên Chúa trong tâm hồn ta, bằng cách lắng nghe Chúa nói trong đáy lòng ta, bằng sự kết hiệp thân mật với Thiên Chúa… Những cách cầu nguyện cao cấp đem lại cho ta nhiều sức mạnh, nhiều niềm vui hơn, nhờ đó ta có nhiều kinh nghiệm về Thiên Chúa hơn…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu ta tự mãn với tình trạng tâm linh hiện tại của ta, đời sống tâm linh của ta không thể lớn lên và mạnh mẽ được. Trái lại, nếu ta nhìn nhận rằng ta cần phải tiến bộ nhiều hơn, sẵn sàng đón nhận những hiểu biết và kinh nghiệm mới mẻ về Thiên Chúa, những cách thức sống đạo mới hơn, cao hơn, thực tế hơn, bớt hình thức mà đi vào chiều sâu hơn, thì ta sẽ thấy mình dần dần tiến cao hơn, và dễ dàng sống thánh thiện, vị tha, hy sinh cho Thiên Chúa và tha nhân hơn. Nếu cá nhân cần phải loại trừ tính tự mãn mới tiến bộ được, thì các tập thể, kể cả quốc gia, tôn giáo, cũng phải như vậy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tâm hồn ta sở dĩ thường nặng trĩu những âu lo, phiền muộn là vì ta đã đặt nặng «&lt;i&gt;cái tôi&lt;/i&gt;» của mình nhiều quá. «&lt;i&gt;Cái tôi&lt;/i&gt;» của ta đã chiếm hết không gian tâm thức của ta, và gây ra biết bao xáo trộn, xung đột với tha nhân, với lương tâm, với bổn phận, tạo nên bao phiền muộn, lo lắng, sợ hãi… Cái ách của «&lt;i&gt;cái tôi&lt;/i&gt;» thật nặng nề. Ta hãy mang lấy ách nhẹ nhàng của Đức Giêsu, bằng cách «&lt;i&gt;từ bỏ mình&lt;/i&gt;», là điều kiện đầu tiên mà Ngài đòi buộc những ai theo Ngài phải thực hiện. Từ xưa đến nay, nhiều khi ta chỉ mang danh theo Chúa thôi, chứ thực tế ta chưa hề theo Ngài bao giờ, vì ta chưa hề «&lt;i&gt;từ bỏ mình&lt;/i&gt;». Ta vẫn coi «&lt;i&gt;cái tôi&lt;/i&gt;» của mình quan trọng quá mức! Ai nói động đến ta là ta nổi cơn tam bành lên. Xin Chúa giúp ta hiểu rằng điều kiện tiên quyết để theo Ngài là từ bỏ chính «&lt;i&gt;cái tôi&lt;/i&gt;» của ta. Nhờ thế, khi theo Chúa đích thực, tâm hồn ta luôn được bình an, hạnh phúc và tràn đầy sức mạnh.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;______________________________________&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/3175732813099352653-4681203529165198345?l=nguyenchinhket4.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/4681203529165198345'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/3175732813099352653/posts/default/4681203529165198345'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/tranhtumandekinhnghiemvethienchua.html' title=''/><author><name>Nguyen Chinh Ket</name><uri>http://www.blogger.com/profile/13591657578399476622</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='25' height='32' src='http://bp0.blogger.com/_XUQGf-nfEA0/R5ZIvbbjOlI/AAAAAAAAALM/YQVQPolKUjo/S220/Nguyen+Chinh+Ket.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-3175732813099352653.post-8760304497736599696</id><published>2009-08-06T18:21:00.000-07:00</published><updated>2009-08-06T18:25:33.627-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;Tỉnh thức và sẵn sàng,&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(153, 0, 0);font-size:180%;" &gt;một thái độ sống đạo tốt đẹp&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;1. Nhiều Kitô hữu nghĩ rằng ngày tận thế sắp đến&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Hiện nay, rất nhiều Kitô hữu đang quan tâm đến ngày tận thế. Nhiều người đoán rằng ngày ấy gần đến rồi. Thực ra, ngay từ thời các tông đồ, rồi thời gian ngay trước năm 1000, rồi mới đây ngay trước năm 2000, và hiện nay khi thấy chiến tranh thế giới có nguy cơ xảy ra, các Kitô hữu nghĩ ngày tận thế sắp đến ngay tức thời. Vào những thời điểm kể trên, có rất nhiều dấu hiệu phù hợp với những lời tiên tri của Đức Giêsu về ngày tận thế: chiến tranh, thiên tai, động đất, lòng người nguội lạnh, sự ác lan tràn… Những thời điểm ấy, thời điểm nào các Kitô hữu cũng đều thấy rằng từ trước đến lúc ấy, chưa bao giờ những sự kiện được coi là điềm của tận thế lại dồn dập đến như những thời điểm ấy. Nhưng rồi những thời điểm ấy qua đi, và ngày tận thế vẫn chưa tới. Hiện nay, tâm lý người Kitô hữu vẫn y như vậy. Đó cũng là một điều tốt để cảnh tỉnh người Kitô hữu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;2. Coi chừng kẻo bị lường gạt&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Đúng ra, khi nghĩ đến tận thế và chuẩn bị cho tận thế, người Kitô hữu phải tỉnh thức như Đức Giêsu khuyên nhủ, bằng cách sống tích cực tinh thần Tin Mừng của Ngài, cụ thể bằng sự yêu thương nhau. Nhưng trong thực tế, thay vì sống tinh thần tỉnh thức, họ bị lôi cuốn vào việc tìm những điềm thiêng dấu lạ, sưu tầm những lời khuyên nhủ mới nhất của đấng này đấng kia hiện ra… Lòng họ vì thế bị chao đảo, sợ hãi: thay vì cứ an tâm sống cho đúng tinh thần Tin Mừng, thì họ lại tìm cách đối phó với ngày ấy, hoặc tìm những phương cách dễ dàng do người này chỉ người kia bảo, những phương cách khôn ngoan kiểu thế gian… miễn sao được cứu rỗi vào ngày đó. Vì thế, họ dễ bị thần khí xấu lường gạt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo tôi, ta nên nghe lời thánh Phaolô: «&lt;i&gt;nếu có ai bảo rằng chúng tôi đã &lt;b&gt;được thần khí mặc khải&lt;/b&gt;… quả quyết rằng ngày của Chúa gần đến, thì anh em đừng vội để cho tinh thần dao động, cũng đừng hoảng sợ. &lt;b&gt;Đừng để ai lừa dối&lt;/b&gt; anh em bất cứ cách nào&lt;/i&gt;»(2Tx 2,2-3). Và cũng nên lưu ý lời thánh Gioan: «&lt;i&gt;Anh em &lt;b&gt;đừng cứ thần khí nào cũng tin&lt;/b&gt;, nhưng hãy &lt;b&gt;cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không&lt;/b&gt;, vì đã &lt;b&gt;có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian&lt;/b&gt;&lt;/i&gt;»(1Ga 4,1). Thần khí giả thời nay rất khôn khéo, không hề nói điều gì xấu hay sai trái, toàn nói những điều hay lẽ thật, nhưng lại chỉ nhấn mạnh đến những điều tương đối phụ thuộc hầu làm người ta quên đi điều cốt yếu của Tin Mừng. Hoặc cứ nhấn mạnh đến việc sử dụng những phương tiện để làm người ta quên đi mục đích: dùng phương tiện thật hay mà không xác định rõ ràng mục đích phải tới, thì mục đích ấy làm sao đạt được? Mục đích không đạt được thì phương tiện có ích lợi gì? Nhờ khôn khéo như thế, thần khí xấu ấy dối gạt được rất nhiều người (x. Mt 24,11), kể cả những người được chọn (x. Mt 24,24). Chỉ cần làm người ta lạc hướng Tin Mừng như thế là ma quỉ đã thành công lớn rồi! Chính Đức Giêsu cũng đã cảnh báo: «&lt;i&gt;Anh em &lt;b&gt;hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt&lt;/b&gt;, vì sẽ có nhiều người &lt;b&gt;mạo danh Thầy&lt;/b&gt; đến nói rằng: "Chính ta đây", và: "Thời kỳ đã đến gần"; anh em &lt;b&gt;chớ có theo họ&lt;/b&gt;&lt;/i&gt;»(Lc 21,8). Thần khí xấu có thể không xưng mình là Đức Giêsu, vì như thế sống sượng quá, không lừa gạt được ai, mà xưng mình là một nhân vật uy tín nào đó!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì thế, thay vì quan tâm sống cho đúng tinh thần của Đức Giêsu, thì nhiều Kitô hữu chuẩn bị đón Chúa đến bằng sự gia tăng đọc kinh cầu nguyện cho nhiều và cho sốt sắng hơn, tham dự các bí tích thường xuyên hơn, đồng thời hối thúc người khác cũng chuẩn bị giống như họ, v.v… Quả thật, tất cả những việc ấy đều rất tốt, rất đáng làm, nhưng lại không phải là việc chính yếu cần phải làm để chuẩn bị ngày Chúa đến. Nhiều người còn nghĩ tới chuyện phải đối phó làm sao với cảnh tối ba ngày ba đêm bằng cách mua thật nhiều đèn cầy rồi đem đến xin linh mục làm phép để đốt trong những ngày ấy! Chỉ cần làm cho người ta quá quan tâm đến việc đối phó với tận thế mà quên đi việc sống đạo hay những bổn phận trước mắt là ma quỉ đã thắng lợi rồi!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;3. Hãy chuẩn bị đón Chúa đến một cách khôn ngoan,&lt;br /&gt;đúng ý Thiên Chúa muốn&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Đúng ra, theo tinh thần bài Tin Mừng trên, thì việc cần làm nhất là &lt;b&gt;&lt;i&gt;tỉnh thức và sẵn sàng&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;, nghĩa là phải từng giây từng phút sống sao cho đúng thánh ý của Thiên Chúa, đúng tinh thần của Đức Giêsu. Cụ thể là:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;– yêu mến Thiên Chúa bằng cách sống cho có tình có nghĩa với mọi người chung quanh, nhất là những người gần gũi mình nhất. Chính Đức Giêsu đã dùng tình yêu đối với loài người, được biểu lộ hùng hồn nhất qua cái chết của Ngài, để thờ phượng và thể hiện tình yêu của mình đối với Thiên Chúa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;– nhận ra tha nhân là hình ảnh và là hiện thân của Thiên Chúa mà mình phải yêu thương. Làm sao ta dám cho rằng mình yêu mến Thiên Chúa vô hình khi mà những hình ảnh hay hiện thân hữu hình của Ngài thì mình lại chẳng yêu thương?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;– thể hiện tình yêu thương ấy bằng hành động cụ thể là sự quan tâm, giúp đỡ, hy sinh thật sự cho họ. Tình yêu không được biểu lộ thành hành động cụ thể chỉ là thứ tình yêu giả dối, ngoài môi miệng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cách chuẩn bị cho ngày tận thế hay nhất vẫn là tỉnh thức theo kiểu thánh Louis Gonzaga, một vị thánh chết khi còn rất trẻ tuổi. Một hôm, vào giờ chơi, Louis đang chơi banh ngoài sân, cha linh hướng đến hỏi Louis: «&lt;i&gt;Nếu một lát nữa Chúa gọi con về với Ngài, thì bây giờ con làm gì?&lt;/i&gt;» Câu trả lời của Louis làm cha linh hướng rất hài lòng: «&lt;i&gt;Con sẽ tiếp tục chơi, vì bây giờ là giờ chơi, thánh ý của Thiên Chúa đối với con vào giờ này là muốn con chơi&lt;/i&gt;». Điều đó cho thấy Louis lúc nào cũng cố gắng sống đúng thánh ý Chúa, đúng theo đòi hỏi của tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân, nên Louis có thể sẵn sàng về với Chúa bất kỳ lúc nào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu ta là Louis lúc đó, chắc hẳn ta sẽ trả lời: «&lt;i&gt;Con sẽ đi gặp một linh mục để xưng tội, và vào nhà thờ cầu nguyện để chết trong khi cầu nguyện&lt;/i&gt;». Trả lời như thế chứng tỏ ta không thường xuyên sống trong tình trạng tỉnh thức chuẩn bị Chúa đến, mà đợi «&lt;i&gt;nước đến chân mới nhảy&lt;/i&gt;». Như vậy, giả như Thiên Chúa gọi ta về với Ngài ngay lúc này, khiến ta không có một phút nào để kịp ăn năn hay xưng tội, thì số phận ta sẽ thế nào?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu lúc nào ta cũng sống đúng theo thánh ý Thiên Chúa, sống đẹp lòng Thiên Chúa, thì dù Chúa sắp đến hay còn lâu mới đến, ta &lt;i&gt;không có gì phải bận tâm&lt;/i&gt;. Đấy là cách chuẩn bị đón Chúa đến hay nhất, cách mà Đức Giêsu muốn ta thực hiện nhất. Nghĩa là lúc nào ta cũng sẵn sàng đến trình diện Chúa như Louis Gonzaga, nên luôn luôn làm mọi việc như bình thường, có vẻ như chẳng chuẩn bị gì cả, cho dù biết Chúa sẽ đến ngay ngày mai, hay chỉ trong chốc lát nữa! Đối với người luôn tỉnh thức và sẵn sàng, Chúa đến lúc nào cũng vậy thôi!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt; &lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(0, 0, 153);font-size:130%;" &gt;4. Sống giây phút hiện tại như giây phút cuối cùng đời mình&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;Một danh nhân nọ nói: «&lt;i&gt;Ngày nào tôi cũng tự nhủ: "tôi sống như thể hôm nay là ngày đầu tiên và cũng là ngày cuối cùng cuộc đời tôi&lt;/i&gt;». Đó cũng là một cách sống tỉnh thức và sẵn sàng, rất phù hợp với tinh thần bài Tin Mừng hôm nay. Sống như thế, cuộc sống mỗi ngày sẽ trở nên tràn đầy, ý vị, vì không bị những buồn phiền, rắc rối, hối tiếc về quá khứ và những nỗi lo lắng cho tương lai làm bận tâm, làm mất năng lực. Sáng dậy, nếu ta nghĩ như thể ngày hôm nay là ngày duy nhất của cuộc đời ta, coi như không có quá khứ, cũng không có tương lai, chỉ có hiện tại, thì ta dễ tập trung mọi năng lực để sống thật tốt, sống thật đẹp lòng Chúa, để làm cho ngày hôm nay thành một của lễ sống động, thật giá trị dâng lên Thiên Chúa. Cuộc đời ta cứ dệt bằng những ngày như vậy thì cần gì phải lo tận thế! Đừng quan tâm hay thắc mắc bao giờ sẽ tận thế, nhưng hãy sống mỗi ngày như thể cuối ngày đó là tận thế! Cứ sống thử như thế đi, bạn sẽ thấy cuộc đời bạn đổi mới từ đây, với nhiều sức mạnh và hạnh phúc hơn.&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 153, 0);"&gt;&lt;a href="http://nguyenchinhket.blogspot.com/"&gt;TRỞ VỀ MỤC LỤC&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;strong&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;________________
